BBT: Tác giả Nguyễn Ngọc Dương – nguyên Phó ban Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai, nguyên Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Lào Cai. Ông viết bài này từ 2015 – trước ĐH XII. Bài viết tập trung làm sáng rõ hoàn cảnh lịch sử ra đời Thể chế Kinh tế Thị trường định hướng XHCN trên cả hai phương diện Lý luận và thực tiễn, cũng là điểm lại thành quả và những hạn chế, vướng mắc của nó khiến kinh tế Việt Nam không phát huy hết tiềm năng mà còn nảy sinh những tệ lậu kéo dài, khó giả quyết. Sau nhiều kỳ Đại hội vẫn không có chuyển biến. Vấn đề đặt ra một cách cấp thiết cần nhận thức đúng về Thể chế Kinh tế Thị trường định hướng XHCN trên tinh thần Phép Biện Chứng của CN Mark, lấy thực tiến kiểm nghiệm Lý luận, cái gì sai thì sớm loại bỏ, cái gì đúng thì ghi nhận bổ sung làm phong phú thêm Lý luận. Trước thềm ĐH XIII, tác giả mong muốn Đảng tập hợp được trí tuệ của toàn dân,lắng nghe tiếng nói góp ý của các tầng lớp nhân dân, các nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước, tìm kiếm tư duy đột phá, tận dụng cơ hội đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, thời kỳ Xây dựng CNXH ở miền Bắc cho đến sau 10 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước,1985, Đảng CSVN vẫn giữ thể chế Kinh tế Kế hoạch hóa tập trung (theo mô hình Staline), coi đó là thể chế Kinh tế XHCN. Tuy ban đầu cũng có tác dụng nhất định nhưng sau đó, nền kinh tế đất nước không những không phát triển mà còn đưa đến nguy cơ suy sụp.

Đảng tìm mọi cách để khắc phục tình trạng đó. Lúc ấy vấn đề Giá – Lương – Tiền được coi là “khâu đột phá”. Năm 1985 đổi tiền, dẫn đến đồng tiền VN mất giá nghiêm trọng (siêu lạm phát 3 con số – từ 700% đến 800% những năm 1986 – 1988) – (1), giá cả càng tăng vọt, đời sống nhân dân, đặc biệt những người làm công ăn lương càng khó khăn hơn… Những cán bộ được cử đi công tác nước ngoài hay lưu học sinh ở các nước xã hội chủ nghĩa lúc này như một ân sủng, bởi người ta chỉ mong làm sao khi về mua được mấy cái quạt tai voi hay bàn là Liên Xô… Sự thất bại của “cơn bão” Giá – Lương – Tiền, khiến một số cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước bị tai tiếng, bởi họ là những người đi tiên phong trong tổ chức thực hiện lĩnh vực này.

Trước đó, có một người hết lòng vì đời sống của dân đã “một mình một ngựa” phá rào, thực hiện khoán hộ trong nông nghiệp. Ông là Kim Ngọc, Ủy viên Trung ương đảng, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú. Ông đã phải làm kiểm điểmvà tự nhận “có sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ” trước Ban chấp hành Trung ương.Đại hội lần thứ III Đảng bộ Vĩnh Phú (5/1977), ông rút không ứng cử Bí thư tỉnh ủy, năm 1978 nghỉ hưu, 1979, mới 62 tuổi, Kim Ngọc đã qua đời!…

Đến năm 1988, Bộ Chính trị chính thức có Nghị quyết “khoán 10”, một nghị quyết “đổi đời cho nông dân”. Ai cũng biết, tiền thân  khoán 10 chính là chủ trương “khoán hộ” vụng trộm của ông Kim Ngọc từ hơn 20 năm trước. Tất nhiên đến lúc này, Kim Ngọc được giải oan và hơn nữa, năm 1995 ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Độc lập hạng nhất… (2)

KIm Ngọc – Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú – tác giả của Khoán hộ

Với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kinh tế đất nước như đi vào ngõ cụt.  Nghị quyết Trung ương 4 khóa VI (1986) đánh giá: ‘Nền kinh tế đất nước đang đứng trước bờ vực thẳm…’ Trước thử thách quyết liệt của cuộc sống, của vận mệnh Dân tộc, Đảng quyết định phải đổi mới. Khẩu hiệu “Đổi mới hay là chết” được đưa ra. Có những đồng chí lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng như Trường Chinh, Võ Văn Kiệt… đã biết lắng nghe những trí thức, kể cả người từng làm việc dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa tham mưu cho Đảng về công cuộc đổi mới. Trong đổi mới có nhiều vấn đề, nhưng cốt lõi là phải chấp nhận Cơ chế thị trường

Trước đó, Đảng vẫn cho rằng, cơ chế thị trường vốn là sản phẩm của sự phát triển tư bản chủ nghĩa. Nhưng lại không thấy, đó là kết quả mà loài người đã phải trả giá sau hằng nghìn năm lịch sử, chứ không phải “sáng kiến” của riêng mấy nhà tư bản. Vào đầu những năm 20 thế kỷ trước, chính V.I. Lenin khi áp dụng chính sách kinh tế mới (NEP) ở Nga đã có yếu tố của cơ chế thị trường. Đọc Lenin lúc ấy, chúng ta bắt gặp những câu đại thể: Phải học chủ nghĩa tư bản, rằng, tôi sẵn sàng đổi cả một tá những người cộng sản đỏ vụng về, dốt nát lấy một chuyên gia tư sản giỏi; hoặc nhiệt tình cộng với ngu dốt bằng phá hoại… Nhưng rất tiếc, chúng ta đã định kiến với những thứ sinh ra từ trong xã hội tư bản. Cái gì của Chủ nghĩa tư bản cũng đều là xấu xa, đáng ghét, đều là thù địch.

Nhưng, khi đứng trước sự mất còn, không còn cách nào khác, Đảng phải chấp nhận cơ chế thị trường như một cứu cánh, đi theo nó là sự thay đổi thành phần kinh tế xã hội. Trước đó, ta chủ trương Kinh tế XHCN chỉ có 2 thành phần là Kinh tế nhà nước (sở hữu toàn dân) và Kinh tế tập thế (sở hữu HTX). Nhưng khi chấp nhận Cơ chế thị trường thì phát sinh nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều phương thức phân phối… Chính nhờ sự “đổi mới” này mà kinh tế đất nước được “bung ra”, phát triển mạnh mẽ như người đang bị cùm kẹp bỗng dưng được tháo “gông xiềng”.

Trong thời kỳ bao cấp, hàng hóa thiếu thốn từ cái kim, sợi chỉ, cán bộ, công nhân viên chức phải chờ đợi sự phân phối từng bánh xà phòng đến cái lốp xe đạp. Hình ảnh xếp hàng dài để mua nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống tối thiểu đã thành ấn tượng một thời. Lúc ấy, trong dân gian có câu nói hài hước: Xã hội chủ nghĩa là Xếp hàng cả ngày

Thế mà chỉ vài năm sau đổi mới, chấp nhận cơ chế thị trường thì hàng hóa bỗng tràn ngập từ thành thị đến nông thôn, từ Nam ra Bắc, từ miền xuôi đến miền ngược. Người tiêu dùng (đi mua hàng) đang như kẻ ăn mày bỗng trở thành “thượng đế”. Đặc biệt nền Nông nghiệp nước ta từ chỗ thiếu lương thực trầm trọng, đến chỗ sản xuất thừa lương thực, xuất khẩu gạo đứng tốp đầu thế giới. Cuộc sống của người dân như được “lột xác”.

Đại hội Đảng VI – Đại hội Đổi mới.

Thế mới biết, đường lối quan trọng thật. Nó có thể nâng bổng một dân tộc lên, nếu nó đúng đắn. Nhưng nó cũng có thể dìm một dân tộc xuống, kéo lùi lịch sử đất nước hàng chục, thậm chí hằng trăm năm, nếu nó sai lầm. Rõ ràng, công cuộc đổi mới là sự “tỉnh ngộ” của Đảng. Đó là thành tựu bất hủ mà chúng ta vẫn tự hào ghi nhận trong những năm qua.

Tuy nhiên, để đưa được cơ chế thị trường vào Thể chế kinh tế Xã hội chủ nghĩa cũng không hề suôn sẻ. Nhiều người lo sợ “chệch hướng”. Mà chệch hướng lại là một trong bốn nguy cơ lo ngại nhất của Đảng CSVN từ thời kỳ mà hệ thống xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu sụp đổ (Chệch hướngTụt hậu về kinh tếTham nhũng & Diễn biến hòa bình)… Khi đã đưa ra khẩu hiệu “kiên định”, “kiên trì”…thì đương nhiên có nhiều điều không dám đổi thay, nhất là những đổi thay khi phải học theo Chủ nghĩa tư bản, dù đó là những thành tựu tiên tiến.

Có lẽ để khỏi chệch hướng, người ta đã gắn vào Cơ chế thị trường một cụm từ “Định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đây là một mô hình, một “sáng kiến về mặt lý luận” riêng của Việt Nam? Đưa được những chữ này vào, người ta có vẻ cảm thấy yên tâm hơn. Như vậy từ khi đổi mới, chúng ta có cụm từ nền kinh tế đất nước vận hành theo Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong khi đó ở Trung Quốc lúc ấy, dưới sự lãnh đạo của “lãnh tụ tối cao” Đặng Tiểu Bình, một người khởi xướng công cuộc cải cách nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa theo hướng “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc“. Triết lý cơ bản của ông Đặng là “Mèo trắng, mèo đen miễn là bắt được chuột”. Như vậy, thực chất cái mà họ quan tâm không phải vấn đề nó là sản phẩm nào, chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản, mà quan trọng là nó có hiệu quả gì cho nền kinh tế của họ hay không. Lúc ấy, vì Việt Nam vẫn còn “lằn vết lươn” sau trận đòn “bài học” của họ, nên các nhà tư tưởng của ta ra sức phê phán ông Đặng. Cho rằng ông ấy đang xa rời Chủ nghĩa Marx, xa rời quan điểm giai cấp, nặng về Chủ nghĩa dân tộc… Thế nhưng, Kinh tế Trung Quốc nhờ đó mà như “con hổ châu Á đang ngủ bỗng thức dậy”…

Còn ở một số nước tiên tiến đã đạt được những kỳ tích sau chiến tranh như Đức, Nhật, Hàn Quốc, họ không có ‘Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” như chúng ta. Họ chỉ có Kinh tế thị trường xã hội  (Social Market Economy) là một nền kinh tế hướng tới ba mục đích vốn là tiền đề phát triển lành mạnh, đó là (1) phục vụ tự do con người; (2) công bằng và an sinh xã hội và (3) hòa hợp giữa mọi xu hướng xã hội. Thôi thì chỉ dám so sánh với Hàn Quốc, một nước mà 40 năm trước so với Việt Nam họ còn “ngồi chiếu dưới”, nhưng nay đã vượt Việt nam khoảng 20 lần! Không phải chỉ là kinh tế mà cả xã hội – nhân văn… (3)

Còn chúng ta thì cho đến nay, sau 30 năm đổi mới, công bằng mà nói cũng có cái được, cái ‘thắng lợi’, nhưng đồng thời cũng còn quá nhiều trở ngại. Sự vận hành của nền kinh tế đất nước đang vấp phải khó khăn mà có vẻ vẫn chưa tìm ra lối thoát? Khi quản lý kinh tế nhà nước còn kém hiệu quả, thất thoát nhiều, nợ công, nợ xấu ngày càng chồng chất, văn hóa, đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng, tham nhũng phát triển không “phanh” được …thì các quan chức cứ đổ vấy cho “mặt trái của cơ chế thị trường”- một câu nói cửa miệng rất mù mờ, không có kiểm chứng!…   

Trước những lúng túng trong thực tiễn, Văn kiện Đại hội XII của Đảng, ban hành đầu năm 2015 có một câu đánh giá ngắn gọn rằng: Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm được hoàn thiện, chưa có cơ chế đột phá để thúc đẩy phát triển…(4)

Đó là một nhận định đúng, bởi những người hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn đều thấy rằng: không rõ định hướng xã hội chủ nghĩa là gì. Thậm chí có người còn nói: Cơ chế thị trường và định hướng XHCN là hai mặt đối lập, không dung nạp được với nhau, chỉ được tùy chọn 1 trong 2 yếu tố đó.

Một ngày cuối năm 2013, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh được mời đến nói chuyện về các vấn đề kinh tế ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Thính giả là lãnh đạo của hầu hết các tỉnh, thành phố. Kết thúc buổi nói chuyện, nhiều người hỏi Bộ trưởng, thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”. Gần ba mươi năm trước, khi theo học lớp lý luận cao cấp học tại học viện này, ông Vinh cũng đã hỏi câu hỏi đó với các thầy là các nhà lý luận, nhưng không được trả lời. Nay, câu hỏi đó vẫn còn bỏ ngỏ. (5)

Nhiều người cho rằng Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nói thật lòng và thẳng thắn, bởi ông cũng vì đất nước, vì nhân dân mà nói thẳng, nói thật. Một tờ báo nước ngoài bình luận: “Đây là ông Bộ trưởng không sợ mất ghế”!… Sở dĩ họ bình luận như vậy bởi Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã không ngại đụng đến một vấn đề “nhạy cảm” được ghi trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội.

Đến nay, trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XII của Đảng ghi như sau: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt nam là nền kinhh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công băng, văn minh” (hết trích) (4). Có lẽ những người dự thảo văn kiện cho rằng ghi như vậy là “cụ thể hóa” thêm một bước định hướng XHCN trong cơ chế thị trường.

Đọc kỹ đoạn dự thảo, tôi hết sức băn khoăn về những ngôn từ chỉnh sửa văn kiện ĐH về Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi Dự thảo xem ra chưa có gì mới, chỉ là cách nói khác đi một chút. Ví dụ: bây giờ nói: “Vận hành đầy đủ, đồng bộ”, thì ĐH XI cũng đã nói: “Cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt…”, hay bây giờ nói phải: “Hiện đại, hội nhập quốc tế” thì ĐH XI cũng đã nói: “Chủ động tích cực hội nhập quốc tế…”. Bây giờ nói: “Có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng CSVN lãnh đạo” thì ĐH XI cũng đã nói “Có sự quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng CS” (chỉ thiếu chữ “pháp quyền XHCN” thôi)… Như vậy, cơ bản chỉ là xếp sắp lại câu  chữ,  còn bản chất vấn đề vẫn không có gì thay đổi.

Như vậy thì liệu có giải quyết được những vấn đề chúng ta đang đặt ra? Có lẽ cần  phải  tìm nguyên nhân gốc rễ của nó, chứ không phải chỉ sắp xếp lại, chắp vá một vài từ ngữ mà có thể giải quyết được vấn đề.

Phải chăng, trước Đại hội XII, những vấn đề phức tạp, khó khăn rất cần tập trung trí tuệ của các nhà khoa học. Đảng nên mở rộng sự lắng nghe những người thực sự có học vấn, trí tuệ, kể cả những cán bộ lão thành cách mạng dày kinh nghiệm, thậm chí cả những trí thức không phải đảng viên nhưng họ có tâm huyết với dân tộc, với đất nước. Đất nước ta rất nhiều người thông minh. Khi lắng nghe nhiều ý kiến khác nhau, có thể có những suy nghĩ “đột phá”, khác với những suy nghĩ giáo điều, theo lối mòn. Còn việc tiếp thu hay không là quyền của Đảng, của Đại hội.

Ở đây, tôi chỉ xin nêu về phương pháp nhận thức, cái chìa khóa vạn năng mà Marx đã trao cho chúng ta. Trên cơ sở cái “chìa khóa” đó mà Đảng tiếp thu ý kiến của các nhà Trí thức. Muốn đổi mới có hiệu quả thì phải xuất phát từ thực tế cuộc sốngmà dám mạnh dạn thay đổi những điều có thể xưa nay tưởng như không thể. Chân lý chỉ có thể được minh chứng bằng thực tiễn. Thực tiễn mới là quan tòa công minh nhất cho việc phán quyết chân lý. Mọi cái đều vận động theo quy luật tự thân không có gì là bất khả biến. Đó chính là phương pháp nhận thức Duy vật biện chứng, hạt nhân của Chủ nghĩa Marx – Lenin. Nếu trung thành với Chủ nghĩa Marx – Lenin thì trước hết phải trung thành với “hồn cốt” của nó – phép biện chứng duy vật.

Một khi thấm nhuần phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Marx – Lenine thì có những cái thuộc về công thức hay mô hình cụ thể của chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx cách nay hằng trăm năm, giờ đây nếu không phù hợp thực tiễn thì vẫn có thể thay đổi. Marx, Enggel đã từng khuyến cáo đại ý: Chủ nghĩa của chúng tôi không phải là những công thức, những mô hình cụ thể, mà chỉ là phương pháp nhận thức, là kim chỉ nam. Mọi chân lý đều phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống chứ tuyệt nhiên không áp đặt những lý thuyết có sẵn để bắt thực tiễn phải theo… V.I.Lênin cũng nhấn mạnh “Chính vì chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều chết cứng, một học thuyết nào đó đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch, mà là một kim chỉ nam sinh động cho hành động, chính vì thế nó không thể không phản ánh sự biến đổi mạnh mẽ của điều kiện sinh hoạt xã hội”[3].”

Như vậy, theo Marx, Engels và Lenin, nếu áp đặt những lý thuyết có sẵn cho thực tiễn, thì đó là những quan niệm duy tâm chủ nghĩa mà các ông đã hết sức phê phán để hình thành nên học thuyết của mình.

Nhận thức điều này, tôi nghĩ rằng, giả định như các ông Marx – Engels bỗng dưng sống lại thì các ông sẽ nói rằng: “Các cháu ơi, nhận thức là một quá trình, ngày xưa, hồi tháng 2 năm 1848, ta nói trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản có những cái có thể đến nay còn đúng, nhưng có nhiều cái đến nay không còn đúng nữa. Bởi điều kiện xã hội ở các nước phương Tây lúc ta nghiên cứu là hoàn toàn khác bây giờ. Các cháu phải nghiên cứu kỹ Thế giới ngày nay để mà đề ra đường lối, giải pháp cho phù hợp, đúng đắn, đừng rập khuôn máy móc những gì ta nói từ cách đây hơn 170 năm trước. Ta cũng là con người, ta đâu phải là Thánh thần mà có thể chỉ ra cho các cháu con đường cụ thể của hằng trăm năm sau. Ngoài Biện chứng pháp của ta ra thì mọi cái có thể thay đổi, chỉnh sửa…Nghiên cứu học thuyết của ta mà theo lối kinh viện, giáo điều là hỏng. Muốn có cuộc sống hạnh phúc, hãy tự tìm lấy con đường đi cho mình từ phương pháp luận của ta”.

Nhưng rất tiếc, khi có những ý kiến nhằm đổi mới cho phù hợp thực tiễn thì những người bảo thủ lại chụp cho cái mũ “suy thoái”, “diễn biến”, thậm chí “phản động”…Thế thì còn gì là biện chứng pháp? Xét cho cùng, khi không tôn trọng Phép biện chứng duy vật với những quy luật cơ bản của ‘sự vận động tuyệt đối’ của ‘sự thống nhất & đấu tranh giữa các mặt đối lập”…của “nhận thức luận” lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý…thì đó là chống lại Chủ nghĩa Marx , chứ đâu phải là “Trung thành”?

———————————

Chú thích nguồn tài liệu tham khảo:

(1) Các đợt lạm phát từ 1986 đến nay http://www.wattpad.com/427474-c%C3%A1c-%C4%91%E1%BB%A3t-l%E1%BA%A1m-ph%C3%A1t-t%E1%BB%AB-1986-%C4%91%E1%BA%BFn-nay, hoặc: Tailieu.vn: http://tailieu.vn/doc/cac-giai-doan-lam-phat-o-viet-nam-766159.html và nhiều tài liệu khác

(2) Kim Ngọc –http://vi.wikipedia.org/wiki/Kim_Ng%E1%BB%8Dc  

(3): Kỳ tích sau chiến tranh – Trần Trọng Thức – Thời báo Kinh tế Sài Gòn 30/4/2015.

(4) Dự thảo các Văn kiện trình ĐH XII của Đảng (Tài liệu sử dụng tại ĐH đảng bộ cấp cơ sở)

(5): Cải cách Thể chế từ câu hỏi chưa có lời giải (Theo Thời báo KTSG – 3/5/2014 – http://www.thesaigontimes.vn/114301/Cai-cach-the-che-tu-cau-hoi-chua-co-loi-giai.html 

avatar
  Theo dõi  
Notify of