BBT: Đổi mới chính trị – cải cách thể chế là nội dung quan trọng xuyên suốt trong văn kiện các kỳ đại hội nhưng do nhiều nguyên nhân mà nhiệm vụ này chưa thực hiện được bao nhiêu. Chậm đổi mới chính trị là một trong những thành tố gây ra sự trì trệ ảnh hưởng đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Trước thềm ĐH Đảng XIII, chuyên gia Bùi Đức Lại – nguyên hàm Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ TW Đảng phân tích và chỉ ra: đổi mới chính trị là việc cam go, nhiều thử thách, nhưng phải làm và càng làm sớm càng tốt, càng để lâu càng có nhiều hệ lụy khó lường. Và dân chủ hóa trong lựa chọn cán bộ là khâu then chốt. Bay Lên Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết . Mời các thành viên đọc và thảo luận trên tinh thần khoa học, thẳng thắn và xây dựng

This can check my portal help show that you put more thought in your essay than what the normal seller searching for.

Những người trung thành với chủ nghĩa Mác đều công khai thừa nhận học thuyết của ông về hình thái ý thức xã hội, về mối quan hệ giữa thượng tầng kiến trúc,trong đó có tổ chức nhà nước và hạ tầng cơ sở.

Tổ chức nhà nước trong chế độ xã hội chủ nghĩa kiểu Liên Xô (mà các nước xã hội chủ nghĩa  đều ‘rập khuôn” về cơ bản), được cho là xuất phát từ học thuyết đó, đặt trên nền tảng của nền kinh tế tập trung kế hoạch phi thị trường, với hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.

Chế độ đó đã cáo chung. Dù còn có những ý kiến khác nhau trong nhận thức về nguyên nhân sự cáo chung này, nhưng thực tế là , không quốc gia nào trong thế giới hiện đại đi theo con đường đó nữa.

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam, được khởi phát từ cơ sở, đến Đại hội VI đã được Đảng được khẳng định về nguyên tắc.

Qua từng thời kỳ, đổi  mới kinh tế  đã dần được cụ thể hóa và thực hiện, mang lại kết quả phát triển ngày nay. Đã hình thành hệ thống các chủ trương, chính sách xóa bỏ chế độ kinh tế tập trung kế hoạch hóa, phát triển kinh tế tư nhân, mở rộng quan hệ quốc tế, “cải tạo” kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, dần đưa nó về đúng “địa vị lịch sử” phù hợp với nó.

Trong mỗi  giai đoạn trên  con đường dài này đã diễn ra cuộc đấu tranh không ồn ào, nhưng không kém phần gay gắt về quan điểm nhận thức. Nếu chỉ đơn thuần là cuộc tranh cãi về lý luận thì chắc nó còn kéo dài, và càng kéo dài thì các thời cơ càng bị bỏ lỡ, đất nước càng chịu nhiều thua thiệt. Nhưng thực tiễn đã có tiếng nói quyết định. Nó chẳng những có sức mạnh gợi ý mà còn “áp đặt”, không cho phép người ta kéo dài lối tư duy bảo thủ, lạc hậu. Nhưng thời gian cần thiết để thuyết phục lẫn nhau, những bước đi  chậm chạp, đôi khi vòng vèo, đã khiến chúng ta phải trả giá không nhỏ. Nếu không  thì Việt Nam đã phát triển nhanh, mạnh, vững vàng hơn.

Trung thành với niềm tin macxit của mình về sự phù hợp tất yếu giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc, Đại hội VI chủ trương đổi mới toàn diện, xem đổi mới chính trị  là tất yếu, không thể không làm. Đại hội VI, VII cũng không kiêng dè, gọi đích danh vấn đề  là đổi mới chính trị.

Việc ra đời một nghị quyết trung ương mang tên “Đổi mới và chỉnh đốn đảng”, chứng tỏ Đảng đã nhận thức được rằng đổi mới Đảng là tiền đề xây dựng đảng trong tình hình mới, là vấn để trung tâm của đổi mới chính trị đất nước.

Nhưng nội dung và bước đi cụ thể đổi mới chính trị như thế nào thì chưa cụ thể hóa ngay được vào thời điểm đó. Thực tiễn trong nước và điều kiện quốc tế chưa cho phép đưa ra lời giải cho vấn đề phức tạp và nhậy cảm bậc nhất này. Thêm nữa, nếu như đổi mới kinh tế có thể khởi nguồn từ cơ sở bằng các sáng kiến “làm chui” “vượt rào” được tổng kết lại, thì đổi mới chính trị  chỉ có thể bắt đầu từ ban lãnh đạo trung ương. Nó phụ thuộc vào nhận thức, quan điểm và bản lĩnh của người đứng đầu. Đã không có một ban lãnh đạo và người đứng đầu đủ sức tiến hành việc này.

Đại hội Đảng CSVN lần thứ XII

Sự sụp đổ của chế độ Liên Xô và các nước  Đông Âu được xem là thất bại của công cuộc/ phương thức thực hiện đổi mới/cải tổ/cấu trúc lại…chủ nghĩa xã hội ở các nước nói trên. Sự thất bại này đã gây nên tâm trạng lo ngại sâu sắc trong lãnh đạo Việt Nam. Đổi  mới chính trị ở Việt Nam, vốn đang là chuyện cải cách chính trị đảm bảo cho nó phù hợp với cơ sở hạ tầng đang thay đổi và những điều kiện mới trong nước và trên thế giới, dường như lập tức chuyển thành việc “bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa”.  Có thể hiểu được cách đặt vấn đề như vậy của lãnh đạo Việt Nam vào thời điểm đó, cũng như sau này  những “cuộc cách mạng màu”, những phong trào “dân chủ” diễn ra ở hàng loạt nước khác không mang lại kết quả kỳ vọng.

Trong hoàn cảnh Việt Nam, một đất nước vừa trải qua chiến tranh, xung đột kéo dài, nhiều mâu thuẫn tích tụ lại chưa hóa giải được, lại luôn phải đối phó với mưu đồ và thủ đoạn bành trướng, khống chế của ban lãnh đạo Trung Hoa, thì tâm trạng “phòng thủ cảnh giác” càng có thể biện minh. Cũng có thể phán đoán rằng, nếu diễn ra vào thời điểm đó một cuộc “đổi mới chính trị” theo “trào lưu chung” trên thế giới thì tác hại sẽ khốc liệt hơn nhiều. Đó là điều không ai muốn.

Tuy nhiên, nếu vì lo ngại “mất ổn định” mà gác lại, bỏ qua hoặc chậm chạp, lần lữa trong đổi mới chính trị, cũng là một sai lầm nguy hại không kém. Vì cuối cùng thì đổi mới chính trị vẫn phải làm, nhưng những phương án có thể lựa chọn sẽ ít hơn, vấn đề phải đối phó sẽ gay gắt hơn.Tiếc rằng, điều này không được nhận thức đầy đủ trong ban lãnh đạo các thời kỳ.

Đổi mới chính trị là yêu cầu khách quan, là vấn đề do cuộc sống đặt ra, không thể tạo ra mà cũng không thể né tránh nó. Thận trọng trong cách tiếp cận, cân nhắc các khía cạnh, các tình huống, không đồng nghĩa với bảo thủ, ù lì, viện cớ khó mà rụt rè, hoặc làm một cách hình thức

Đổi mới chính trị luôn luôn là thử thách lớn nhất đối với thế lực cầm quyền, hoặc nó là chủ thể lãnh đạo, hoặc nó trở thành đối tượng của sự thay đổi.

Như trên đã nhận xét, ở Việt Nam sau năm 1991, vấn đề đổi mới chính trị đã bị xếp sau, hoặc nói đúng hơn, mang nội dung chính là “bảo vệ chế độ”, “giữ vững ổn định”.

Bảo vệ chế độ là bảo vệ những gì?

Nền kinh tế Việt Nam đã dần dần trút bỏ cái áo “xã hội chủ nghĩa” kiểu cũ, kéo theo sự thay đổi về cấu trúc giai cấp trong xã hội, về địa vị của từng giai cấp trong xã hội đó. Tất cả ngày càng xa rời mô hình kinh tế-xã hội xã hội chủ nghĩa cũ. Đó là thực tế, dù có được thừa nhận hay không. Người ta không thể bảo vệ cái đã bị phủ định, không  còn hiện hữu.

Rút cục bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa mang nội hàm cụ thể là bảo vệ chế độ chính trị hiện hành. Mà đặc điểm chủ yếu khiến để “nhận diện”, để không lẫn nó với các thể chế chính trị khác là ở vai trò lãnh đạo- cầm quyền của một chính đảng duy nhất. Nói cách khác, bảo vệ vị trí, vai trò lãnh đạo và cầm quyền duy nhất của Đảng được xem là nội dung quán xuyến của bảo vệ chế độ.

Trong lịch sử  nói chung rất hiếm xảy ra việc một thế lực chính trị tự nguyện từ bỏ hoặc cắt xén quyền lực đang nắm trong tay. Ngược lại, nó đều  có xu hướng muốn thoát ra khỏi sự mọi kiềm chế càng nhiều càng tốt khi có thể. Nhưng chính trong tình trạng quyền lực không bị kiểm soát lại đó lại mang  mầm mống hủy diệt của chủ thể nắm quyền, đó là nguy cơ tha hóa của nó. Người ta hiểu ra nguy cơ tha hóa này đối với xã hội nên tìm cách hạn chế, khắc phục nó bằng hình thức tổ chức nhà nước, trong đó có sự phân định độc lập và giám sát lẫn nhau giữa ba nhành quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong khi thừa nhận rằng thể chế này có những mặt không hay, nhưng người ta vẫn cho rằng nó là hình thức tổ chức nhà nước tốt hơn cả so với các hình thức khác. Trong các nước theo thể chế chính trị này, tính chính danh của các thế lực cầm quyền nằm ở chỗ hoạt động trong khuôn khổ luật pháp và giành được đa số phiếu qua bầu cử tự do, có tranh cử giữa các chính đảng. Các đảng/tập đoàn/ cá nhân cầm quyền dựa vào đó để bảo vệ tính chính danh của nó, không phụ thuộc vào việc nó có thật xứng đáng hay không trong thực tế.

Với cách mạng xã hội chủ nghĩa, đã ra đời một mô hình tổ chức nhà nước khác, trong đó chỉ thừa nhận một chính đảng duy nhất lãnh đạo- cầm quyền là đảng cộng sản. Mô hình này dựa trên tiền đề giả định rằng, xã hội chỉ bao gồm hai giai cấp công nhân và nông dân hợp tác, thống nhất với nhau về lợi ích cơ bản và liên minh chặt chẽ  với nhau (các giai cấp khác chỉ là “tàn dư” của xã hội cũ, đang được “cải tạo”, tiến tới xóa bỏ). Chính đảng cầm quyền duy nhất, trực tiếp quyết định mọi vấn đề hệ trọng nhất của đất nước. Các định chế khác như quốc hội, chính phủ…chỉ có chức năng cụ thể hóa và tổ chức thực hiện những quyết định đó. Với cách tổ chức này, khách quan mà nói đảng cầm quyền không thể không “làm thay nhà nước”, trở thành “nhà nước trong nhà nước”. Với mô hình này, nguy cơ tha hóa quyền lực là rất cao.Chính Lê nin, người đầu tiên tô chức nhà nước theo kiểu này, cũng nhận biết nguy cơ đó, nên ông nhấn mạnh rất nhiều đến những biện pháp kiểm tra, kiểm soát trong đảng. Việc quy định đại hội đảng (được tổ chức hàng năm với các đại biểu được bầu trực tiếp từ cơ sở lên), là cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng, rõ ràng là với tính toán nó  có thể là một có chế kiểm soát quyền  lực của ban chấp hành và người đứng đầu ban chấp hành.

Nhưng cuối cùng, cuộc thử nghiệm này đã thất bại. Ban lãnh đạo các cấp đã không tránh khỏi thoái hóa về chính trị, tổ chức, tư tưởng- đạo đức, và là nhân tố trực tiếp dẫn toàn đảng đến thất bại. Nhân dân trong đó có đảng viên không có lý do gì để ủng hộ một ban lãnh đạo như vậỵ

Ngày nay, những nước “đi theo con đường xã hội chủ nghĩa” như Việt Nam, tuy đã không còn những cơ sở kinh tế-xã hội như cũ nữa, nhưng vẫn chủ trương chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo- cầm quyền. Xét cho cùng, đây cũng là một lựa chọn, một thử nghiệm. Còn quá sớm để khẳng định khả năng thành công hay thất bại, nhưng có thể khẳng định ngay rằng, một đảng như vậy không thể tổ chức và hoạt động “y như cũ”. Nó tất yếu phải đổi mới, phải tìm ra phương thức tổ chức và hoạt động mới. Ở Việt Nam nó  chẳng những không thể “bắt chước” cách cầm quyền ở các nước dân chủ đa đảng, mà cũng không thể  sao chép thủ pháp cầm quyền của Trung Hoa, một cường quốc đang nuôi mộng bá chủ thế giới, luôn tuyên bố xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng cũng không ngừng chèn ép, xâm lấn, thao túng Việt Nam. (Sự “nhang nhác nhau” về chế độ, chỉ là về hình thức; vị thế khác nhau, thậm chí có mặt mâu thuẫn sâu sắc với nhau là thực tế. Chuyện “lý tưởng tương đồng” càng ngày càng lộ rõ chỉ là chuyện “đầu môi chót lưỡi”)

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được hình thành trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Ngày nay, Đảng vẫn tự đứng ra tiếp nối gánh vác sứ mệnh lãnh đạo toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Sự lãnh đạo này vẫn được thừa nhận sự như một thực tế đang tồn tại, vì những thành công của Đảng trong quá khứ,  cũng có phần vì chưa thấy những tổ chức đủ sức cạnh tranh với Đảng.

Làm thế nào để Đảng thể trở thành người đại diện đích thực cho một cộng đồng dân tộc bao gồm những giai cấp, những tầng lớp, những cá nhân có địa vị và lợi ích khác nhau, nhiều khi mâu thuẫn với nhau? Làm thế nào để tập hợp, hóa giải các mâu thuẫn đó để có sức mạnh thống nhất về chính trị,tư tưởng, tổ chức, hướng tới nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, chống “thù trong giặc ngoài”thắng lợi ? Làm thế  nào để là chính đảng duy nhất cầm quyền mà tránh được tha hóa, suy thoái?

TBT- CTN Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Lễ mít tinh Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đó là những thách thức đối với Đảng. So với các thách thức mà các Đảng và chính đảng cộng sản cầm quyền ở các nước trong quá khứ phải đối mặt, thách thức này lớn hơn nhiều.

Khởi đầu đổi mới Đảng cộng sản Việt Nam đã ý thức được điều này. Trong các văn kiện làm nền tảng cho tổ chức và hoạt động của Đảng (Điều lệ, Cương lĩnh, các Nghị quyết đại hội), Đảng luôn nhấn mạnh những quan điểm cơ bản như “Đảng phục vụ nhân dân, ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không lợi ích nào khác””Đảng lãnh đạo, không làm thay nhà nước” “Đảng chịu sự kiểm soát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”””Đảng lãnh đạo là để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân” …Liên tục trong bẩy tám đại hội gần đây, Đảng  đều nhấn mạnh yêu cầu “mở rộng và thực hành dân chủ”, xem dân chủ hóa trong Đảng và toàn xã hội là công cụ quan trọng nhất đổi mới chỉnh đốn Đảng, hạn chế nguy cơ sai lầm về đường lối, chống quan liêu, tham nhũng, thoái hóa biến chất…  

Sự thật là không có khác biệt nhiều về nội dung giữa những khuyết điểm Đảng tự phê bình với những lời “phê bình Đảng” từ bên ngoài; giữa những điều Đảng thấy cần “tự đổi mới, tự chỉnh đốn” với những kiến nghị cải cách chính trị. Khác chăng là ở chỗ người nói ra những điều đó.

Không thể phủ nhận những cố gắng trong thời gian qua và những kết quả nhất định đã đạt được trong đổi mới chính trị. So với thời kỳ thực hiện “chuyên chính vô sản” trước đây, không khí tự do dân chủ trong Đảng và trong xã hội đã có những bước tiến lớn; hoạt động của các định chế nhà nước , của quốc hội, chính phủ, hệ thống tư pháp, mặt trận, các đoàn thể nhân dân, các hội đoàn…ít nhiều đều có chuyển biến; gần đây việc trừng phạt tham quan ô lại và một số thế lực dùng tiền bạc thao túng bộ máy, mua chuộc “quan chức” được xúc tiến tích cực hơn…  

Nhưng nếu “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” thì không thể không thừa nhận rằng hầu hết nhiều nội dung đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi mới chính trị được đề ra qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, đã không được cụ thể hóa, không được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. Thậm chí có những việc đã bỏ nhiều công sức để làm, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn không đáng kể. Đảng vẫn chậm đổi mới, không chặn được đà suy thoái, sự sa sút tín nhiệm của Đảng trong nhân dân; dân chủ trong đảng, trong xã hội vẫn không được thực hiện, hoặc chỉ được thực hiện một cách hình thức… Chậm đổi mới chính trị này đã trở thành yếu tố cản trở lớn nhất trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc của nhân dân ta hiện nay.

Đảng lãnh đạo cần dũng cảm đánh giá thật đúng vấn đề này, đừng bị bệnh thành tích che mắt, cũng đừng tự mình khen mình hoặc ngộ nhận vì những “lời có cánh” của ai khác. Đảng phải thực sự cầu thị, biết tôn trọng những lời nói phải, từ đó huy động trí tuệ và lương tri toàn xã hội, thực hành dân chủ rộng rãi, tranh luận thẳng thắn, cởi mở,  vượt qua mọi định kiến, để thực hiện đổi mới chính trị, đổi mới và chỉnh đốn đảng vì lợi ích của dân tộc, của đất nước. Chỉ làm như vậy, Đảng mới có thể dắt dẫn thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đã đề ra.

Trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của một cá nhân và khuôn khổ bài viết, xin đề cập một vài điều suy ngẫm.

 Vì sao đổi mới chính trị, đổi mới chỉnh đốn đảng, được đề ra sớm nhưng vẫn không thực hiện được?

Phải chăng những nhiệm vụ đổi mới chính trị được đề ra là quá cao, là sản phẩm chủ quan, duy ý chí? Không phải như vậy. Đổi mới chính trị với phương hướng lớn và nhiệm vụ cụ thể được đề ra  xuất phát từ cuộc sống thực tế, phù hợp với yêu cầu khách quan, mong muốn của nhân dân và xu thế của thời đại,

Phải chăng đổi mới chính trị bị kìm hãm vì không có điều kiện thuận lợi? Thực tế thì có những mặt không thuận lợi, nhưng cũng có rất nhiều mặt thuận lợi mà thuận lợi lớn nhất  ngoài những vấn đề đã nói trên, còn là việc mà chúng ta có thể chủ động làm, không bị chi phối/ can thiệp của nước ngoài (như khi còn tồn tại “phe” xã hội  chủ nghĩa).

Trách nhiệm chậm tiến hành đổi mới chính trị trước hết nằm ở ban lãnh đạo Đảng các thời kỳ. Cụ thể là:

+ Chưa nhận thức đúng tính chất tất yếu và cấp bách của đổi mới chính trị, đổi mới chỉnh  đốn Đảng.

Bị ám thị nặng nề vì tình hình diễn ra sau sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, thực chất tâm trạng “co lại” đã chi phối tư duy đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Chính điều này hỗ trợ cho những quan điểm bảo thủ, “kiên trì” những điều không còn phù hợp với thực tiễn mới, hạn chế đi tới thủ tiêu mọi sáng kiến đổi mới chỉnh đốn đảng. Vô tình tạo cơ hội tiếm quyền cho những phần tử cơ hội đích thực, miệng hô khẩu hiệu “kiên trì”, “bảo vệ lý tưởng”, tay không ngừng vơ vét, làm giầu, bất chấp luật pháp và lợi ích của đất nước. Khi đương quyền, bọn tội phạm này luôn nhân danh Đảng, thậm chí còn lớn tiếng tuyên truyền đạo lý, chủ nghĩa… nên đã trở thành bọn phá hoại nguy hại nhất uy tín của Đảng trong nhân dân.

+ Chưa có chương trình, kế hoạch dài hạn, lộ trình đổi mới chính trị,đổi mới chỉnh đốn đảng. Chính vì bị chi phối về nhận thức, quan điểm có những hạn chế nói trên, cộng với ảnh hưởng của tâm ly nhiệm kỳ, nên đã ban lãnh đạo các thời kỳ đã không có một lộ trình rõ ràng, nhất quán thực hiện nhiệm vụ đổi mới chính trị, đổi mới chỉnh đốn đảng. Họ bị thu hút hầu hết thời gian vào việc “xử lý tình huống”, đối phó với các vấn đề nẩy sinh, đối phó “nội bộ” hơn là nghiêm túc thực hiện những chủ trương lớn đã đề ra, thậm chí có những biện pháp đưa ra lại là “cải lùi”, quay về cái cũ. Thêm nữa, với một bộ máy bao gồm nhiều cán bộ cơ hội như trên nói, nhiều khi bản thân họ cũng cảm thấy bất lực.

+Trong những điều kiện nói trên, lẽ ra phải kiên trì thực hiện khẩu hiệu do Đảng đề ra, xem “dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực” cho sự nghiệp đổi mới, thì lại làm ngược lại. Một biểu hiện khá phổ biến là thiếu lòng tin vào nhân dân, không dám thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng. Vì thiếu lòng tin như vậy, lại luôn luôn đề phòng bị tấn công, nên rất khó tiếp thu mọi ý kiến phê bình khuyết điểm của mình, những đề xuất  đổi mới. Không những thế còn mặc nhiên xem đó là sản phẩm chống phá của những thế lực thù địch, hoặc nhẹ hơn là biểu hiện thoái hóa về chính trị-tư tưởng, chịu ảnh hưởng “diễn biến hòa bình”…Phân tuyến như vậy là nhầm lẫn, làm lẫn lộn phải trái, vừa hạn chế dân chủ, hạn chế sáng kiến và những tiếng nói tâm huyết, vừa khuyến khích bọn cơ hội, nịnh bợ.

+Công tác cán bộ vẫn thực hiện theo lối cũ, chưa khắc phục được những khuyết điểm đã nêu ra, không huy động được tiềm năng tài trí trong nhân dân. Ở đây có hàng chùm vấn đề đan xen, vừa là nhân, vừa là quả không thể đề cập đầy đủ, nên chỉ thử nêu vài vấn đề đang nổi lên trong thực tế.

i)Sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ không được đổi mới. Đảng cũng như các thế lực khác chính kiến với Đảng đều nhân thức được rằng, cán bộ là vấn đề then chốt. Đảng buông tay là mất vị trí lãnh đạo.

Chính vì thế Đảng có lý do kiên trì nguyên tắc “đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ”và thực hiện bằng cách “đảng quyết định cán bộ””đảng nắm cán bộ”.

Vấn đề là cách hiểu và phương pháp thực hiện điều này vẫn cơ bản như cũ, không còn hoàn toàn thích hợp với điều kiện mới, nên chất lượng “lãnh đạo và quản lý” ngày càng sa sút.

Không giống như xưa, ngày nay có hàng triệu “xí nghiệp” tư, trong đó có hàng trăm doanh nghiệp có vị trí lớn trong nền kinh tế quốc dân. Những “cán bộ” ở đây có thuộc diện lãnh đạo và quản lý của đảng không? Nếu có thì “lãnh đạo, quản lý” thế nào?

Hầu hết mọi vị trí “lãnh đạo” trong hệ thống công quyền các cấp đều do đảng viên nắm giữ, liệu đó có phải là điều Đảng muốn không? Điều này có kiềm chế tài năng ngoài đảng không? Có làm cho việc vào Đảng biến thành một cách “làm quan phát tài” không?

Với quy chế “quản lý cán bộ” như hiện nay, thì quyền lực của nhân dân, tiếng nói của cơ quan  đại diện cho dân có phải chỉ là hình thức hay không? Công tác cán bộ đã thoát khỏi tình trạng “nằm trong tay một số người”như Đảng đã tự phê bình trong các kỳ đại hội chưa? Đảng viên có tiếng nói gì trong việc “chọn” cán bộ, một khi họ không được tiếp nhận thông tin, mọi sự tự động “tìm hiểu, trao đổi, phản ảnh nào” cũng đều có thể bị quy kết là “nói xấu, đả kích”và bị những kẻ đương quyền trả thù?

Giám sát tài sản cán bộ, nhất là bất động sản có lẽ là sự giám sát dễ nhất mà dân có thể làm. Kê khai tài sản cán bộ đã được luật định, từ lãnh đạo cao nhất đến người dân thường, đều bức xúc trước tình hình những cán bộ có chức quyền có tài sản lớn,  sống xa hoa, không chứng minh được nguồn gốc, khả năng là tài sản phạm pháp rất lớn. Vậy mà lai “sợ” công khai hóa, tức là tự bỏ đi một sức mạnh giám sát rất quan trọng của dân.Vì sao?

ii) Một thực tế khác rất đáng suy ngẫm. Nhìn khách quan mà nói, chế độ quản lý cán bộ ở Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam là tương tự như sau. Đúng sai từng thời kỳ có thể có ý kiến tranh luận, nhưng kết quả cuối cùng, người đứng đầu-sản phẩm cao nhất của chế độ đó cũng là người kết thúc chế độ.

Chế độ quản lý cán bộ hiện nay ở Viêt Nam, tuy trên lời lẽ có những điều chỉnh nhất định, nhưng trong thực hành cơ bản không có thay đổi. Dù qua nhiều thủ tục khá rắc rối, nhưng quyền quyết định cuối cùng vẫn nằm trong tay một số người và người đứng đầu. Sau mỗi các kỳ đại hội, nhất là từ khi đổi mới đến nay, nhân dân và đảng viên đều được nghe những báo cáo có cánh về “thắng lợi tốt đẹp” nhất là về “công tác nhân sự” (đại để là nhân  sự được làm dân chủ, bài bản, được nhất trí cao, đúng như dự kiến…). Nhưng sản phẩm thực của nó- cán bộ thì lỗi nhiều, nhiều lỗi nghiêm trọng (ai chưa tin điều này thì xin xem lại danh sách những người đã bị xử lý trong nhiệm kỳ qua, đủ mặt cao thấp, vị trí công tác,không loại trừ cả các tướng lĩnh công an, quân đội…Mà đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm).

Liệu có thể nói lưới lọc tốt khi sản phẩm sau lưới vẫn đầy rác rưởi?

Bước vào đại hội XIII, cũng như các đại hội trước, nhiều ý kiến nói về tầm quan trọng của việc chọn lựa cấp ủy, nhất là người đứng đầu, xem đây là vấn đề “then chốt của then chốt”(?). Trong giới lãnh đạo và lý luận, càng nhấn manh hơn lập luận rằng chọn sai người đứng đầu ở cấp cao nhất có thể mất chế độ.

Hãy bỏ qua một bên tư duy không chính xác qua việc dùng từ “chọn”. Chọn là việc lựa lấy theo nhận thức chủ quan của chủ thể “chọn”. Tiền đề của “chọn” là chủ thể chọn có những phẩm chất cao hơn đối tượng “chọn”.Điều này không luôn luôn đúng và nếu có trường hợp đúng thì sản phẩm chọn chỉ có thể như những con búp bê Nga, con được chọn ngày càng bé đi.

Vấn đề nghiêm trọng hơn đáng bàn là, nếu một chế độ mà sự an nguy của nó, kéo theo sự an nguy của đất nước lại phụ thuộc vào một cá nhân/ người đứng đầu, thì liệu đó có phải là một chế độ bền vững, đáng “kiên trì” và có thể “kiên trì” và không?

Hiện nay, vấn đề đổi mới chính trị, đổi mới và chỉnh đốn đảng, đang được thảo luận nhiều. Cũng đã có những hy vọng, những điểm sáng nhất định, nhưng nhìn vào sự chuẩn bị và tiến tới Đại hội XIII của Đảng thì không có căn cứ để kỳ vọng nhiều.

Đổi mới chính trị là vấn đề khó, tiềm ẩn nhiều rủi ro, tai họa. Nhưng càng để lâu thì càng khó, mâu thẫn càng tích tụ lại, nhất là vì trong hàng ngũ cầm quyền xuất hiện càng nhiều kẻ có lợi ích gắn với một thể chế dở dang như hiện nay. Chúng sẽ như lũ ký sinh, hút máu vật chủ cho đến chết rồi bỏ đi. Nếu chúng thắng thế, thì đổi mới chính trị Việt Nam sẽ diễn ra theo một hướng khác, không còn nằm trong thiện ý và tính toán của Đảng lãnh đạo nữa. Đó là chưa nói đến mưu đồ của thế lực bành trướng Trung Quốc muốn kiềm chế Việt Nam, muốn chia rẽ nhân dân với lãnh đạo, chia rẽ lãnh đạo với lãnh đạo để dẽ bề thao túng.

Đổi mới chính trị, đổi mới và chỉnh đốn Đảng thiết nghĩ đã có nhưng phương hướng và khuôn khổ đúng đắn được đề ra trong các văn kiện cơ bản của Đảng cầm quyền.

Vấn đề là làm sao thực hiện cho được.Việc đó nằm trong lợi ích của đất nước và lợi ích của Đảng.

avatar
  Theo dõi  
Notify of