Năm 1995, Nhà văn hóa Việt Phương có bài viết nói đến Từ tưởng Hồ Chí Minh trong mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo với Nhà nước và Dân tôc… Nhận thấy ý nghĩa về tính thời sự của bài viêt vẫn còn nguyên giá trị … BLVN xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của Nhà văn hóa Việt Phương.

Tôi muốn nêu rất vắn tắt bảy điểm mà tôi cảm nhận được trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước.

Điểm 1: Phá hay không phá bộ máy Nhà nước cũ khi cách mạng thành công?

Câu trả lời của Hồ Chí Minh là xây dựng Nhà nước mới, nhưng không hoàn toàn phá bộ máy Nhà nước cũ, mà biết dùng, dùng được chừng nào các thể chế cũ, các tổ chức cũ, các pháp luật cũ thì dùng, và nhất là dùng những con người cũ, cố nhiên có lựa chọn, chẳng những con người trong những bộ phận quản lý kinh tế, xã hội, mà cả con người trong những Cơ quan nội chính và quân sự trước đây.

Điểm 2: Cơ sở xã hội của nhà nước là gì?

Câu trả lời của Hồ Chí Minh là: dân tộc.

Sự nhìn nhận về giai cấp, sự chăm lo trước tiên đến đời sống của công nông, của quần chúng lao khổ ở Hồ Chí Minh là rất đúng đắn, nhưng bao trùm hơn là sự nhìn nhận chẳng những đúng đắn mà rất sáng tạo về dân tộc, đại đoàn kết và hoà hợp dân tộc.

Trong dân tộc, là cơ sở xã hội của Nhà nước mới, Hồ Chí Minh hết sức coi trọng lớp trẻ (lớp trẻ đối với tôi là những người được kể trong độ tuổi thanh niên của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nghĩa là từ 15 đến 28 tuổi và lớp người mà tôi gọi là tráng niên, từ 29 tuổi đến 46,47 tuổi). Lớp thanh niên và tráng niên từ 15-16 đến 46-47 tuổi ấy là tầng lớp mà Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng. Tiếp đến là trí thức, tất cả các loại trí thức đích thực, bất kỳ từ nguồn gốc nào, đào tạo từ đâu, đang làm việc và sinh sống ở trong nước hay ở nước ngoài. Nếu kể, thì còn có thể kể, như chúng ta biết, sự chú ý của Hồ Chí Minh đến phụ nữ, đến tôn giáo, đến dân tộc v.v… nhưng như thế thì nhiều quá, tôi chỉ muốn nói hai loại là lớp trẻ và trí thức.

Cơ sở xã hội mới của Nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn và có một điều đặc biệt là không hề thay đổi phạm vi trong quá trình cách mạng. Nếu như Hồ Chí Minh còn sống, thì đến lúc thực hiện được lý tưởng cao cả nhất mà ta gọi là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, cái cơ sở xã hội dân tộc ấy cũng không có một chút thay đổi nào về phạm vi. Có lúc tôi đã diễn đạt tư tưởng này của Hồ Chí Minh là đối với Hồ Chí Minh không có khái niệm “bạn đường”, không có việc sắp xếp lực lượng cách mạng thay đổi về phạm vi và số lượng tham gia, không có những người đang là lực lượng cách mạng bỗng bị xếp thành đối tượng cách mạng hoặc đang là đồng minh chiến lược gần bỗng bị biến thành đồng minh chiến thuật xa, khi chuyển từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Nhất quán từ đầu cho suốt cả quá trình, qua các giai đoạn, Nhà nước cách mạng có một cơ sở xã hội là dân tộc, với phạm vi các giai cấp và tầng lớp không thay đổi, mà chỉ được nâng lên về chất lượng để thành ra một dân tộc mới, chứ không phải sang giai đoạn cao hơn thì Nhà nước thu hẹp cơ sở xã hội của mình lại, bởi vì có một số giai cấp và tầng lớp cạn kiệt khả năng cách mạng, không theo được nữa, chỉ làm người bạn đường đến đó thì đứt gánh giữa chừng. Sự rơi rớt của một số người là có thực, đó là sự rơi rớt của người này hoặc người khác, có khi đã từng là cán bộ, đảng viên, chứ không phải là sự bị loại bỏ của tầng lớp này hoặc tầng lớp khác.

Điểm 3 : Giải quyết sự lựa chọn giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp thế nào ?

Đấy là một cuộc tranh luận lớn giữa những người cộng sản và những người không phải cộng sản và giữa các trường phái dân chủ ở phương Tây và cả ở phương Đông. Chúng ta biết rằng nền dân chủ phương Tây đặt như một định mệnh rằng: dân chủ hiện đại phải là dân chủ gián tiếp, chứ không thể trực tiếp như nền dân chủ của thành bang A-ten ngày xưa, nơi mà tất cả công dân chỉ có độ vài chục nghìn người. Bây giờ, quy mô các quốc gia hiện đại lớn quá, không thể có dân chủ trực tiếp được, tất yếu chỉ có thể là dân chủ đại diện mà thôi, rồi tổ chức dân chủ đại diện như thế nào cho tốt nhất, chủ yếu theo kinh nghiệm của nước Anh mà Hobbes và Locke đã tổng kết. Montesquieu và Rousseau đã tiếp nhận và bổ sung, Tocqueville đã phát triển thêm khi nghiên cứu về Mỹ.

Sự lựa chọn của Hồ Chí Minh là không lấy riêng một điều nào cả, không chỉ chọn dân chủ đại diện, tức là không chấp nhận đấy là điều duy nhất có thể thực hiện trong xã hội hiện đại, nhưng cũng không chỉ chọn dân chủ trực tiếp. Hồ Chí Minh kết hợp dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Sự kết hợp như thế nào tôi xin nói ở dưới đây. Ở đây tôi xin nói về dân chủ đại diện.

Khi dùng dân chủ đại điện, Hồ Chí Minh đã không hoàn toàn theo Mác cũng không theo Lê nin, không chấp nhận mô hình dân chủ hội đồng, tức là dân chủ Xô viết của Lê nin. Chúng ta biết rằng đó là nền dân chủ đại điện mà những cơ sở bầu cử tạo ra các Xô viết là những nơi sản xuất, những nơi công tác, chứ không phải là nơi sinh sống của dân cư. vì nhận định cơ bản của Lê nin là nếu bầu cử theo những đơn vị hành chính – dân cư thì đấy không phải là những cộng đồng vững chắc, có hiểu biết lẫn nhau, luôn luôn có dịp trao đổi ý kiến với nhau để thực hiện sự theo dõi và kiểm tra thường xuyên người đại biểu mình bầu ra. Vì thế, phải chọn một đơn vị tế bào nào có một cộng đồng thường xuyên. Tế bào đó là đơn vị sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, đơn vị quân đội, đơn vị cơ quan, bầu ra các xô viết theo hình tháp: các xô viết cơ sở bầu đại biểu của mình hợp thành xô viết quận, huyện; các xô viết quận, huyện bầu ra xô viết tỉnh; các xô viết tỉnh bầu ra xô viết nước Cộng hòa; các xô viết cộng hoà bầu ra các xô viết tối cao Liên Xô. Mô hình xô viết là như thế.

Người ta cho rằng sự phản bội đầu tiên đối với tư tưởng dân chủ của Lê nin là phá bỏ mô hình tháp hội đồng (xô viết) ấy, quay trở lại việc bầu cử theo đơn vị hành chính dân cư và lập ra Nghị viện theo kiểu phương Tây. Sở dĩ mô hình xô viết ấy đã không đứng được, là vì nó không chịu được thử thách của cuộc sống. Hồ Chí Minh đã không theo mô hình xô viết ấy. Hồ Chí Minh đã làm những cuộc bầu cử theo mô hình bầu cử đại điện của phương Tây có lựa chọn. Như thế tức là cũng như ở Liên Xô người ta đã từng phải làm khi mà mô hình xô viết của Lênin không thể qua nổi thử thách của thực tế. Hồ Chí Minh đã nhìn thấy điều đó và đã biết dùng những thành quả bầu cử Nhà nước đại diện của phương Tây ở Việt Nam. Điều rất hay là dùng được thành quả mà không mắc vào khuyết tật, nên chỉ một năm sau khi có chính quyền, ở một đất nước trước đó là thuộc địa, vào năm 1946 của thế giới lúc bấy giờ, mà thực hiện được một cuộc bầu cử thật sự tự do và dân chủ, đối với những người ứng cử (đông đảo nhất trong những lần bầu cử Quốc hội của nước ta cho đến nay), cũng như đối với những người đi bầu.

Khi bầu cử ra Nhà nước đại diện ấy rồi, thì tổ chức nó như thế nào? ở đây, có một điều tôi cảm nhận được là quyền lực thống nhất ở nhân dân và chỉ ở nhân dân thôi, chứ không ở bất kỳ một tổ chức đại diện nào khác.

Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, chứ không phải là cơ quan được giao tất cả quyền lực của nhân dân. Nghĩa chữ cũng đã rõ ràng: “cao nhất” khác với “toàn bộ” (Hiến pháp năm 1992 quy định 14 nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội, 12 nhiệm vụ và quyền hạn của uỷ ban Thường vụ Quốc hội, 12 nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước, 11 nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, 6 nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ v.v…, những nhiệm vụ và quyền hạn ấy không trùng lắp với nhau).

Toàn bộ quyền lực thì ở và chỉ ở nhân dân mà thôi, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong các Hiến pháp của nước ta, Quốc hội được giao một số quyền, Chủ tịch nước được giao một số quyền; Chính phủ được giao một số quyền; Toà án được giao một số quyền; chính quyền cấp tỉnh, cấp dưới nữa cũng được giao một số quyền. Quyền của ai và ai giao? Quyền của nhân dân và nhân dân giao. Làm thế nào để dân giao quyền mà không mất quyền, các cơ quan Nhà nước được giao quyền mà không tiếm quyền dân, đó là một trong những vấn đề lớn nhất của loài người. Về vấn đề này, tôi sẽ xin, nêu một vài ý kiến ở phần kết thúc lời phát biểu.

Trong Nhà nước, tất yếu có sự phân công, như cách chúng ta nói, giữa các loại quyền khác nhau (lập pháp, hành pháp, tư pháp) và các cấp quyền khác nhau (Trung ương, địa phương, cơ sở).

Tôi không hiểu vì sao chúng ta lại dùng từ “phân công”, thực sự đó là “phân quyền”. Hồ Chí Minh chấp nhận sự phân quyền ấy. Gọi sự phân quyền ấy là sự phân công cũng được thôi, nhưng, theo tôi, Hồ Chí Minh đã chấp nhận sự phân quyền và đã khéo kết hợp hài hoà các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; quyền Trung ương, địa phương, cơ sở.

Trong sự phân quyền ấy, mối quan tâm suốt đời của Hồ Chí Minh, theo tôi hiểu, là xây dựng một nền hành pháp rất mạnh, rất mạnh và điều này là một kinh nghiệm lớn của loài người. Hồ Chí Minh đã nhận rõ kinh nghiệm ấy.

Cách tổ chức Nhà nước sinh thời Hồ Chí Minh, qua hai Hiến pháp nărn 1946 và năm 1959, là rất Việt Nam, mang đậm dấu ấn dân tộc và sắc thái phương Đông, đồng thời có vận dụng nhiều kinh nghiệm của Pháp, có một phần của Mỹ về tổ chức Nhà nước và các mối quan hệ quyền hạn giữa các bộ phận chính quyền với nhau, đằng sau đó là kinh nghiệm của Anh, vì Anh đã một thời làm mẫu cho các nền dân chủ phương Tây.

Ở đây, nếu mở một vòng đơn để nói rất ngắn, thì xin được nhấn mạnh rằng Hồ Chí Minh cực kỳ coi trọng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Sinh thời Hồ Chí Minh, vai trò của Đảng được nêu cao và được công nhận một cách sâu sắc, tự nguyện. Một Đảng cầm quyền nhưng không cai trị, điều cực khó đó đã làm được. Một Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền, mà không cai trị, mà biết tôn vinh Nhà nước.

Đồng thời, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp khác. Một thành quả của văn minh Âu – Mỹ là ngoài Nhà nước và thường đấu tranh với Nhà nước, nhiều tổ chức chính trị – xã hội, nghề nghiệp có vai trò lớn, trở thành những lực lượng trụ cột thúc đẩy tiến bộ xã hội, tạo ra đồng thuận xã hội, như các đảng chính trị, các công đoàn, hiệp hội quốc gia của những người chủ, lực lượng của các phương tiện thông tin đại chúng, lực lượng của trí thức ở các viện và các trường đại học, lực lượng của các nhóm gây sức ép… Tổng thể các lực lượng đó cùng với Nhà nước, hợp thành hệ thống chính trị của các nước Âu – Mỹ. Tác động thường xuyên của lực lượng cách mạng và tiến bộ trong các hệ thống chính trị ấy đã là nhân tố nội sinh chủ yếu đưa đến những thành quả của nền dân chủ ở phương Tây.

Trong tư tưởng và hành động của mình, về vai trò của các đoàn thể quần chúng và các lực lượng xã hội khác, về quan hệ của các tổ chức ấy với Nhà nước, Hồ Chí Minh đã xuất phát từ truyền thống dân tộc và kinh nghiệm cách mạng Việt Nam, vận dụng lý luận và những bài học cách mạng trên thế giới, đồng thời ngay từ buổi đầu thành lập Nhà nước và hệ thống chính trị mới, đã vận dụng những thành quả của nền dân chủ ở phương Tây.

Điểm 4 : Mối quan hệ giữa dân chủ hình thức và dân chủ thực tế xử lý thế nào?

Hồ Chí Minh đã không cho rằng dân chủ ở phương Tây chỉ là hình thức, giả hiệu, như sự phê phán rất đúng cách đây hơn một thế kỷ, mà đã căn cứ sát vào thực tế là dân chủ phương Tây có phần thật sự chứ không phải chỉ hình thức, tuy nhiên, đấy là một nền dân chủ phiến diện, chưa đầy đủ, ở mức độ còn thấp và có nhiều sự bị xuyên tạc, bị tô vẽ để lừa mị hoặc bị trắng trợn chà đạp. Chính vì thế, Hồ Chí Minh mới tiếp thu điều này, điều khác của họ, đưa cả những đoạn quan trọng trong Tuyên ngôn của họ vào Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam .

Thế thì làm thế nào để có dân chủ thực tế trong nhà nước mới ở Việt Nam? điều đặc biệt ở Hồ Chí Minh là đã đi tắt, đã thu mấy thế kỷ dân chủ của phương Tây gọn lại trong một thời gian ngắn và thực hiện thành công ở Việt Nam. Phải trải qua mấy thế kỷ của nền dân chủ phương Tây mới đến chỗ nhìn nhận toàn bộ các quyền mà Nhà nước phải bảo đảm cho công dân là ba loại quyền: quyền chính trị, quyền kinh tế và quyền xã hội. Có lúc người ta lại chia các quyền đó thành hai loại: một, là những quyền tự do (droits-liberté); hai, là những quyền đòi hỏi (droits- créance).

Quyền tự do là các quyền chính trị và một phần những quyền kinh tế. Quyền đòi hỏi là những quyền mà người ta được đòi. Đó là một phần những quyền kinh tế và các quyền xã hội. Quyền được đòi hỏi gì? Được đòi có cuộc sống đàng hoàng, có công ăn, việc làm để có thu nhập do lao động của mình, có sự bảo đảm chống lại những tai họa có thể xảy ra trong cuộc sống xã hội, như tai nạn lao động, các loại bệnh tật, các tệ nạn xã hội, sự bảo hiểm xã hội khi tuổi già, khi về hưu v.v… Đó không phải là những quyền tự do, mà là những quyền được đòi hỏi ở xã hội, ở Nhà nước. Những quyền tự do chính trị thì chúng ta quen biết rồi như tự do tư tưởng, tư do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đình công, tự do biểu tình v.v…

Cả hai loại quyền ấy (quyền tự do và quyền đòi hỏi), Hồ Chí Minh đặt ngay từ đầu và khá đầy đủ ở nước Việt Nam năm 1945.

Phương Tây nhìn nhận rằng nền tảng là tự do kinh tế. Đối với giai cấp tư sản, ưu tiên không phải là tự do kinh tế của người lao động bình thường, mà là tự do kinh tế của những nhà kinh doanh, cho nên từ những Hiến pháp đầu của nền dân chủ tư sản phương Tây, thì tự do kinh tế tức là tự do tư hữu tài sản, tự do kinh doanh, tự do thuê mướn sức lao động để làm giàu. Tự do kinh tế đối với Hồ Chí Minh là được có công ăn, việc làm, được có mức sống xứng đáng với con người theo khả năng kinh tế của đất nước. Quyền tự do kinh tế của Hồ Chí Minh trước nhất là quyền tự do của số đông người, chứ không chỉ là quyền tự do của giới kinh doanh. Nhưng Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng quyền tự do của giới kinh doanh, và điều đó đã được ghi trong Hiến pháp năm 1946, ngắn gọn song rõ nét.

Phương Tây cho quyền kinh tế là nền tảng, quyền chính trị là quyết định và quyền xã hội là loại quyền cao nhất và khó nhất, chỉ khi nào đạt đến một trình độ phát triển cao về chính trị và về kinh tế, có một sự tăng trưởng kinh tế lớn và số lượng của cải sản xuất ra đã khá dồi dào, mới có thể vươn đến những quyền xã hội. Cùng với các quyền chính trị, Hồ Chí Minh đã đặt những quyền kinh tế và xã hội rất quan trọng ngay từ đầu của Nhà nước mới ở Việt Nam. Đặt ra, thiết thực làm và đã từng phần làm được.

Điểm 5: Phạm vi hoạt động của Nhà nước.

Đây là một vấn đề đã đặt ra từ lâu, vào loại lâu nhất của loại người. Có một giới hạn nào cho hoạt động của Nhà nước không? Nhà nước “bao” đến đâu, còn cái gì thì ở ngoài Nhà nước? Đối với câu hỏi ấy, phương Tây giành giật nhau rất nhiều.

Lý luận Mác về Nhà nước rất quen thuộc với chúng ta và có lẽ mọi người đều dễ xác nhận là lý luận ấy phong phú và tinh tế, chứ không chỉ cho rằng Nhà nước là công cụ thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác. Ở đây, tôi muốn nói về cách hiểu Nhà nước của khoa học chính trị ở phương Tây.

Nhà nước ở phương Tây là cái gì? Nhà nước ở phương Tây lúc đầu là xã hội. Ở thời mới ra đời, Nhà nước là cái xã hội người được hình thành do một hoạt động đặc trưng của con người, thiết lập những mối quan hệ giữa những con người với nhau và giữa những của cải của những con người ấy với nhau, bằng cách tạo ra một hình thức cai trị, những mối quan hệ giữa một số nguời cai trị và những người bị cai trị. Đấy là Nhà nước và Nhà nước như vậy thì bao trùm toàn xã hội. (Tuy nhiên, từ xưa, cộng đồng gia đình đã không phải là bộ phận của Nhà nước, Aristoie dã từng vạch rõ như vậy trong tác phẩm nổi tiếng “chính trị” của mình).

Từ thời Phục hưng, người ta dần dần phân biệt cộng động tôn giáo và cộng đồng chính trị, Nhà thờ tách khỏi Nhà nước. Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, tiếp sau cách mạng công nghiệp và cách mạng dân chủ tư sản Pháp, nổi bật lên sự phân biệt giữa xã hội dân sự và xã hội chính trị (tức Nhà nước). Một trong những người đầu tiên phân biệt rõ xã hội dân sự và Nhà nước là Hegel trong tác phẩm : “Nguyên lý triết học về pháp quyền”. Xã hội dân sự, ở ngoài Nhà nước, là mạng lưới dày đặc các mối tương tác và trao đổi giữa những cá nhân, nhằm thoả mãn những nhu cầu cá nhân, mỗi người có thể theo cách của mình (nhân đây, xin nói rằng ta dịch từ “xã hội dân sự” – société civile thành từ “xã hội công dân” là không đúng. Xã hội công dân là một tên gọi khác của xã hội chính trị tức là Nhà nước).

Nhà nước có một số luật lệ tạo môi trường pháp lý nào đó thôi, chứ Nhà nước không ôm trùm toàn bộ xã hội dân sự. Ngoài xã hội dân sự, lại còn các phần đời sống riêng tư, có thể coi như bí ẩn, của từng con người, mà Nhà nước không được xâm phạm tới.

Mức độ và phạm vi hoạt động của Nhà nước không thể bao trùm toàn xã hội. Khi đặt ra như vậy, thì có một câu hỏi lớn là giữa Nhà nước với xã hội dân sự và cá nhân con người, cái gì là chính, cái gì là áp đảo, cái gì chi phối cái gì? Trước đây, theo truyền thống cũ, Nhà nước áp đảo và thống trị xã hội dân sự và cá nhân con người. Với Mác, thì có một sự chuyển biến lớn, là Nhà nước chỉ phục vụ xã hội dân sự và con người chứ không được áp đảo, không được lấn át. Đồng thời, Nhà nước và xã hội dân sự tương tác thường xuyên và mạnh mẽ, không thể làm cái việc “rạch đôi sơn hà”, mỗi phần một khoảnh riêng tư. Trong mối tương tác ấy, xã hội dân sự là chủ yếu. con nguời là chủ yếu, còn Nhà nước, tức là xã hội chính trị, phải phục tùng và phục vụ. Đến một lúc nào đó, Nhà nước không còn nữa nhưng chừng nào còn loài người, thì còn xã hội của con người và cá nhân con người.

Tôi nghĩ rằng đại thể những điều về mức độ và phạm vi hoạt động của Nhà nước mà Hồ Chí Minh nhận thấy lúc mình hoạt động là như thế, còn các bước phát triển cho đến bây giờ, như Nhà nước trọng tài, Nhà nước độ sinh, Nhà nước cứu thế, Nhà nước phúc lợi chung, Nhà nước của tự do cá nhân hoặc của lợi ích cộng đồng, thì sinh thời Hồ Chí Minh, thực tiễn và thông tin còn chưa đủ.

Sự lựa chọn của Hồ Chí Minh là thế nào? theo truyền thống của học thuyết Mác. Hồ Chí Minh đã chọn một Nhà nước có phạm vi hoạt động rất rộng, thể hiện rõ trong những luật lệ mà Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng, trong hành động và những lời nói của Hồ Chí Minh. Nhà nước của Hồ Chí Minh quản lý cả chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối nội, đối ngoại… Nhưng độ sâu của hoạt động Nhà nước là đến chừng nào thì trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất có chừng mực. Ví dụ: về kinh tế, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước hoàn toàn không phải là Nhà nước “Chủ tịch – Tổng Giám đốc” của nền kinh tế quốc dân, không phải là Nhà nước sản xuất, không phải là Nhà nước con buôn sỉ và lẻ lớn nhất. Nhà nước làm về kinh tế với một độ sâu vừa phải, có chừng mực, tạo điều kiện để cho nguời ta làm.

Nhà nước của Hồ Chí Minh không nuốt mất xã hội dân sự và cá nhân con người, không nuốt xã hội dân sự đã đành, lại càng không nuốt đời sống cá nhân.

Tôi cảm nhận thấy rằng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước với xã hội dân sự và cá nhân con người, Hồ Chí Minh đã phát huy được truyền thống cộng đồng là đặc điểm của Việt Nam và của Châu Á, đổng thời đã vận dụng được thành quả về cá nhân của phương Tây. Ở Hồ Chí Minh có cả hai điều ấy. Nếu cho rằng Hồ Chí Minh chỉ chú trọng cộng đồng hoặc đặt cộng đồng chèn ép cá nhân thì không phải.

Nói gọn lại một câu, tôi thường nghĩ rằng trong hoạt động cách mạng, công tác Nhà nước và đời sống xã hội, Hồ Chí Minh đã cực kỳ coi trọng cá nhân để cực kỳ coi trọng cộng đồng.

Điểm 6 : Về phương thức hoạt động của Nhà nước mới, từ đó dẫn đến yêu cầu đối với cán bộ và viên chức Nhà nước.

Ở một đất nước mà Nhà nước xuất hiện từ sớm và có truyền thống quan liêu như Việt Nam. Hồ Chí Minh đề ra một Nhà nước “đầy tớ” của nhân dân. Không có gì mới, vì đây cũng là điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài người đã nói và là điều được nhấn mạnh trong học thuyết Mác, nhưng Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra và sinh thời đã thực hiện được trên đất nước này. Điều “không có gì mới” ấy, người ta đã nói nhiều trên thế giới đến thành nhàm chán, song làm được nó thật là vĩ đại và rất hiếm.

Cái Nhà nước “đầy tớ” ấy hoạt động như một Nhà nước, thì phải có pháp luật và kỷ cương. Các đồng chí đã nhấn rất nhiều về tư tưởng pháp luật, kỷ luật, kỷ cương của Hồ Chí Minh, ở đây tôi xin nói thêm về hai ý:

Một là, Hồ Chí Minh tránh luật rừng nhưng cũng tránh rừng luật và về điểm này Hồ Chí Minh gặp thành quả hiện đại của loại người. Ngày nay, loại người nhìn nhận rằng không có luật gì cả, để chơi luật rừng thì cực kỳ nguy hại, mà quá nhiều luật lệ, thành ra một rừng luật, và chơi một rừng luật như thế thì cũng cực kỳ nguy hại, không kém gì luật rừng. Để ra một rừng luật thì bao nhiêu là chỗ hở, mở đường cho bao nhiêu sự xoay xở, bao nhiêu mánh khoé, lèo lá, bao nhiêu tệ nạn tham nhũng và bao nhiêu kiện cáo, đến mức phải có rất nhiều thầy kiện, như tình hình quái gở ở nước Mỹ là luật sư đông hơn hẳn nông dân. Hồ Chí Minh rất coi trọng luật pháp và giữ nghiêm phép nước, nhưng không bao giờ sính làm luật để cho có luật.

Hai là, ngay từ buổi đầu lập nước. Hồ Chí Minh đã xử lý đúng đắn quan hệ giữa lập pháp và lập quy, cái gì đáng “pháp” thì làm “pháp”, cái gì đáng “quy” thì làm “quy”, không lẫn lộn không để xảy ra trục trặc, không ăn khớp, càng không để xẩy ra tranh chấp, mâu thuẫn giữa “pháp” và “quy”, giữa lập pháp và lập quy, bảo đảm sự phối hợp hài hoà giữa quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp. Đây chính là một bài học cho chúng ta ngày nay.

Tôi cũng xin nói thêm về phương thức hoạt đông của Nhà nước. Người ta thường cho rằng Nhà nước có một phương thức hoạt động đặc trưng duy nhất là quản lý bằng pháp luật, bằng những biện pháp hành chính. Đối với Hồ Chí Minh, không phải như thế. Nhà nước vẫn giữ đặc trưng là quản lý bằng pháp luật, đồng thời Nhà nước quản lý bằng toàn bộ các biện pháp của hoạt động cách mạng, đặc biệt là bằng vận động quần chúng.

Hồ Chí Minh đã coi người cán bộ Nhà nước cũng là người cán bộ dân vận, chứ không phải có sự phân công triệt để, Nhà nước chỉ làm những chuyện về pháp luật, còn mọi chuyện vận động quần chúng thì giao cho Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Hồ Chí Minh quan niệm người cán bộ Nhà nước là người sống trong dân, tâm tình với dân, giúp giải quyết những vấn đề của từng gia đình, nói những câu chuyện “từ miệng sang tai”- một người nói với một người chứ không phải chỉ lên diễn đàn, tập hợp dân hàng trăm, hàng nghìn người, dùng phương tiện tăng âm hiện đại để đọc diễn văn. Sự dân vận sâu sát từng người đối với Hồ Chí Minh là rất quan trọng trong phương thức hoạt động của Nhà nước. Bây giờ, người ta không làm như thế nữa hoặc rất ít làm.

Những điều nói trên có thể là một sự gợi ý để suy nghĩ về quan hệ giữa pháp trị và đức trị trong tư tưởng Nhà nước của Hồ Chí Minh, cũng như về những yêu cầu đạo đức, phẩm chất đối với cán bộ của Nhà nước.

Điểm 7: Vấn dề dân chủ trực tiếp.

(Tôi đặt cuối cùng vì tôi cho rằng nó quan trọng nhất).

Dân chủ trực tiếp tức là vai trò chủ động của dân tộc, của nhân dân trong Nhà nước. Tôi cho đây là điểm đặc biệt nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có hoàn cảnh lịch sử của Nhà nước lúc đó là Nhà nước kháng chiến, làm cuộc chiến tranh nhân dân không phát huy vai trò cực kỳ chủ động của cả khối dân tộc, của từng người dân, của từng thanh niên, của từng ông già, của từng phụ nữ, của từng em bé thiếu nhi, thì không đánh được giặc. Có cái hoàn cảnh đó, nhưng Hồ Chí Minh không chỉ phát huy vai trò chủ động của nhân dân trong chiến tranh, mà cũng dùng tư tưởng về Nhà nước như thế trong xây dựng, dĩ nhiên là xây dựng thời chiến.

Ở Hồ Chí Minh, tôi cảm nhận thế này: Hồ Chí Minh không lý tưởng hoá viển vông rằng phải và có thể làm dân chủ trực tiếp của nhân dân được ngay và ở mức cao. Hồ Chí Minh nhận rõ dân chủ trực tiếp là một quá trình, một quá trình rất lâu dài, đi từng bước, từ thấp đến cao. Mức độ, phạm vi và cơ chế của dân chủ trực tiếp ở nước ta trong từng thời kỳ, cũng như phương thức kết hợp giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện còn cần tìm tòi, thử nghiệm nhiều. Nhưng Hồ Chí Mình đầy tin tưởng để tiến trên quá trình ấy. Niềm tin vào dân tộc Việt Nam, như chúng ta đã biết, là niềm tin của Hồ Chí Minh từ lúc còn thanh niên.

Nhiều học giả phương Tây hiện nay vẫn cho rằng phải qua một cái ngưỡng về sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và dân trí, lúc đó mới nói đến dân chủ được. Từ gần nửa thế kỷ trước đây, Hồ Chí Minh đã thực hiện dân chủ có thể nói là ngay tức khắc và đã thành công ở một nước vừa trải qua hơn 80 năm chủ nghĩa thực dân và rất kém phát triển.

Như thế nghĩa là gì? Đối với Hồ Chí Minh, Nhà nước không chỉ lấy nguồn gốc quyền lực của mình ở dân, không chỉ chịu sự kiểm tra thưòng xuyên của dân, không chỉ có một tinh thần hoạt động là gần dân, thân dân, nhằm phục vụ lợi ích của dân, xuất phát từ nguyện vọng của dân. Không phải chỉ như thế. Đối với Hồ Chí Minh, nguồn trí tuệ của Nhà nước là dân. Dân là sáng kiến. Nhà nước có chức năng phát hiện và hoàn chỉnh những sáng kiến ấy, để làm thành nhũng luật lệ và chính sách của mình.

Một Nhà nước biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bổi dưỡng và nâng cao dân, thì sẽ thấy dân không chỉ nói lên điều mình mong muốn, mà còn làm sáng tỏ trí tuệ của mình, gợi ý hoặc chỉ ra rằng cần luật lệ gì và luật lệ ấy phải có nội dung như thế nào, cơ quan Nhà nước cần giải quyết các vấn đề quốc kế, dân sinh ra sao, Hồ Chí Minh đã làm như thế và đã thành công.

Điều này khi chúng ta chuyển vào quá trình đổi mới đã được chứng minh rạng rỡ. Nhiều sáng kiến đột phá giàu tâm huyết của nhân dân đã là một nguồn trí tuệ quý, không gì thay thế được, cho những chủ trương và biện pháp đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Tôi nghĩ rằng một phương thức vận động quan trọng của quá trình đổi mới ở Việt Nam là như thế: từ những sáng kiến của nhân dân, mà dân trí ngày càng nâng cao được phát hiện kịp thời, được dọi vào ánh sáng của kiến thức thời đại, được hoàn chỉnh do hoạt động phối hợp của đội ngũ những người quản lý và đội ngũ những người hoạt động về lý luận, khoa học, để thành những phương án đổi mới được xem xét, lựa chọn bởi những người cầm quyền đủ phẩm chất và trí tuệ phát động và điểu khiển cả quá trình này, tạo ra những bước đổi mới kế tục nhau. Khi quyết định rồi thì Đảng, Nhà nước và nhân dân cùng nhau làm, cứ thế theo vòng xoáy trôn ốc mà tiến lên. Đó chính là bài học của Hồ Chí Minh. Ngày nay, nhân dân của Hồ Chí Minh tiếp tục tỏ rõ khả năng trí tuệ của mình, là một đồng tác giả của công cuộc đổi mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước là Nhà nước ấy làm sao đóng góp phần mình nhiều nhất vào việc nâng cao dân trí, bảo đảm để nhân dân cùng với Đảng và Nhà nước, theo sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, là tác giả ngày càng chủ động, ngày càng có trí tuệ, của sự nghiệp thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

avatar
  Theo dõi  
Notify of