BLVN: Phần 1 tác giả đã luận giải về dân chủ, nhà nước pháp quyền ; Phần 2 bài viết làm rõ Nhà nước pháp quyền và cơ chế tam quyền phân lập. Xin mời bạn đọc và thảo luận.

Phần 2: Nhà nước pháp quyền (tiếp theo và hết)

Trong phần 1 của bài viết, tôi đã trình bày những nội dung cơ bản của học thuyết dân chủ theo chiều cạnh triết học và từ đó dẫn đến chiều cạnh chính trị. Ở phần này, tôi sẽ tiếp tục phân tích ở chiều canh chính trị, đó là vấn đề nhà nước pháp quyền mà theo đó sẽ đề cập đến vấn đề tam quyền phân lập.

Chức năng cơ bản nào của nhà nước sẽ thực thi dân chủ?

Những giá trị phổ biến và xuyên thời gian của lý tưởng dân chủ không phụ thuộc vào các thể chế chính trị cụ thể trong lịch sử. Tuy nhiên sự khác biệt giữa nền dân chủ này với nền dân chủ khác trong lịch sử chính là ở mức độ thực hiện lý tưởng đó trên thực tế. Sự thực hiện đó phụ thuộc vào ba tính quy định cơ bản sau:

– Điều kiện vật chất của xã hội

– Bản chất của giai cấp lãnh đạo

– Kỹ năng tổ chức, vận hành quyền lực công cộng. Liên quan đến vấn đề này chính là vấn đề nhà nước pháp quyền.

Có thể coi nhà nước pháp quyền như một dấu hiệu để nhận biết về dân chủ. Nhà nước pháp quyền là phương thức biểu đạt dân chủ tốt nhất và là phương tiện để thực thi dân chủ tốt nhất. Câu hỏi đặt ra là:

 “Vì sao nhà nước pháp quyền có năng lực thực thi dân chủ?

Luận giải:

– Nhà nước có hai chức năng cố hữu, đó là:

+Chức năng giai cấp (thực hiện chuyên chính giai cấp để trị. Ví dụ: một ông vua cử quân lính đi dẹp khởi nghĩa của nông dân chống lại vua chúa).  

+Chức năng xã hội (thực hiện chức năng quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ví dụ: vẫn ông vua đó cử quân lính đó đi chống lụt cứu những người nông dân đã từng nổi loạn).   

Nếu xét từ góc độ chức năng giai cấp, chúng ta có ba kiểu nhà nước trong lịch sử. Ba kiểu này về bản chất là nhà nước của thiểu số giai cấp thống trị (Nhà nước của giai cấp chủ nô, nhà nước của giai cấp địa chủ và nhà nước của giai cấp tư sản). Còn xét từ phương diện chức năng xã hội, nhà nước là hiện thân của quyền lực công cộng. Chỉ ở bình diện này, ta mới có thể đề cập đến nhà nước pháp quyền.

Việc sử dụng quyền lực công cộng như thế nào để đạt được hiệu quả tối ưu trong quản lý xã hội và nâng cao phúc lợi công dân, nhân danh các giá trị con người là vấn đề không thể giải quyết được ngay một lúc mà nó tiến bộ dần trong lịch sử. Do đó, lịch sử tiến bộ của bộ máy nhà nước là lịch sử của công nghệ, của nghệ thuật và kỹ năng cai trị, trên cơ sở tối ưu hoá dần dần các hoạt động và hiện thực hoá, ngày một đầy đủ hơn các giá trị nhân bản.

(Hiện nay, trong thời đại 4.0, nhân loại đã và đang tiến tới vận hành một nhà nước dựa trên trí tuệ nhân tạo – A.I Government)                                    

Bản chất của nhà nước pháp quyền là gì?

Quay lại với câu hỏi “sử dụng quyền lực công cộng như thế nào là tối ưu?”. Tiến trình phát triển nhân loại đã đúc rút ra một phương thức tổ chức quyền lực công cộng được coi là tối ưu, đó là nhà nước pháp quyền. Theo đó, nhà nước pháp quyền là một phương thức tổ chức và vận hành quyền lực công cộng (tồn tại dưới dạng nhà nước và pháp luật) dựa trên sự đúc kết những kỹ năng hợp lý và tinh thần dân chủ trong quản lý xã hội.

Nhà nước pháp quyền vận hành theo các nguyên tắc sau:

-Thứ nhất: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân (các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp không được “chia phần” và “sở hữu” quyền lực mà chỉ được nhân dân giao các quyền năng khác nhau khi nhân dân tin tưởng mà thôi)  

-Thứ hai: phục tùng tính tối cao của pháp luật (vì pháp luật là ý chí chung của nhân dân cho nên nó là tối cao. Ý chí chung này bảo vệ quyền lợi chung và không đi ngược lại những yếu tố văn hóa vùng miền hoặc sự cá biệt của cá nhân. Ví dụ quy định đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe máy ở nước ta được ghi vào luật giao thông đường bộ và bắt buộc tất cả mọi người phải tuân thủ. Nhưng khi áp dụng vào thực tiễn ở vùng Tây Bắc thì lại phải tính đến bản sắc văn hóa búi tóc cao, gọi là “tằng cẩu” của người phụ nữ đã có chồng để đưa ra khuyến nghị chế tạo loại mũ sao cho phù hợp).   

-Thứ ba: phân công quyền năng (đó là quyền năng lập pháp, quyền năng hành pháp và quyền năng tư pháp mà nhân dân trao cho các cơ quan đại diện mình)

-Thứ tư: bảo vệ nhân quyền (quyền lực công cộng xét cho cùng là để phục vụ con người, nên phải bảo vệ những quyền cơ bản của con người như quyền được sống, quyền được mưu sinh, quyền mưu cầu hạnh phúc. Bây giờ quyền con người được mở rộng thêm như quyền được sống trong hòa bình; quyền được sống trong môi trường sinh thái cân bằng, không có vũ khí; quyền được hưởng những thành tựu khoa học, công nghệ…)   

-Thứ năm: dân chủ (mọi công dân đều được tham gia vào công việc quản lý và vận hành quyền lực công cộng, điều mà chúng ta hay nói đến, đó là dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Nhưng có hai hình thức là trực tiếp và gián tiếp. Chúng ta cứ hình dung là không thể 90 triệu dân cùng ngồi họp để bàn chuyện quốc gia được thì phải cử người đại diện mình đi họp để nói lên tiếng nói của mình, cái đó là dân chủ gián tiếp. Khi nào đại biểu của mình (dân chủ gián tiếp) không thể/không được làm thay mình thì cần dân chủ trực tiếp, ví dụ không ai thay được mình trong việc bỏ phiếu bầu cử hoặc là không ai giơ tay thay được cánh tay của mình khi nhà nước trưng cầu dân ý về những vấn đề trọng đại chung của cộng đồng và của quốc gia).

-Thứ sáu: công bằng (được hiểu là mọi công dân được tạo điều kiện bình đẳng với nhau khi thể hiện và phát huy năng lực/tài năng trong mưu sinh và cống hiến cho xã hội. Cần lưu ý, “công bằng” ở đây không phải là cào bằng. Có thể hình dung thế này: Nếu tổ chức một cuộc thi chạy thì đó không thể là cuộc thi giữa người bình thường đủ hai chân chạy thi với người khiếm khuyết, đi chân giả được. Tiếp theo, trong cuộc thi giữa những người khỏe mạnh bình thường với nhau thì sẽ thi trong một điều kiện như nhau như cùng một đường đua, cùng một hiệu lệnh, cùng một độ dài quãng đường và điều kiện về thời tiết, khí hậu… Và kết quả sẽ là khác nhau. Đó là do năng lực, sự nhiệt huyết, chăm chỉ luyện tập và thể lực khác nhau của những người tham gia chạy đua. Một ví dụ khác: một người có nhu cầu ăn ba bát (chén) cơm, còn người kia chỉ có nhu cầu ăn một bát mà lại cộng ba bát với một bát thành bốn bát rồi chia đều cho hai người, mỗi người phải (chỉ được) ăn hai bát thì đó không phải là tạo điều kiện cho sự bình đẳng mà là đó là sự cào bằng, và đó mới chính là sự bất bình đẳng. Lý tưởng của học thuyết C.Mark là đi tới một xã hội công bằng theo đúng nghĩa mọi người được bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực và cơ hội phát triển, chứ không phải là cào bằng. Chúng ta có thể kiểm chứng qua luận điểm của ông trong Tư bản luận khi ông so sánh hai người công nhân làm cùng một nghề, trong cùng một thời gian và hưởng lương như nhau nhưng một người phải nuôi vợ và hai con, còn người kia chỉ nuôi chính bản thân mình…thì điều gì sẽ xảy ra).   

Thể theo sáu nguyên tắc vận hành như trên đã nêu ở trên thì thực chất đó là nhà nước “của dân, do dân và vì dân

Sự khác biệt giữa nhà nước pháp quyền (nhà nước mà quyền lực thuộc về ý chí của số đông) với ba kiểu nhà nước đã nêu (quyền lực thuộc về một thiểu số) là nó thể hiện nguyên tắc tính tối cao của pháp luật, tính lập hiến và sự đồng thuận ý chí của xã hội trên cơ sở của hiến pháp.

Ngoài ra nguyên tắc tam quyền phân lập do các ông tổ của lý thuyết nhà nước pháp quyền như John Locke, Thomas Hobbes (Anh), Montesquieu, Rousseau (Pháp), I.Kant, Hêghen (Đức)… nhắc đến như một dấu hiệu quan trọng dùng để nhận biết nhà nước pháp quyền.

Vậy tam quyền phân lập là gì?

Theo nhà tư tưởng Montesquieu, ông tổ của lý thuyết tam quyền phân lập thì thực chất của tam quyền phân lập nằm ở chỗ, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước phụ thuộc và chế ước lẫn nhau. Mỗi cơ quan có một quyền năng riêng mà hai cơ quan còn lại không có. Ông cho rằng, việc phân công quyền năng như vậy là cần thiết, vì nếu như “cơ quan cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật vừa tự cho mình là kẻ lập pháp, họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ. Mà họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ”.

(Chúng ta hãy hình dung một việc đơn giản như thế này: Ông A là chủ tịch HĐND xã, có em trai là chủ tịch UBND xã và có con trai là trưởng ban tư pháp xã và có con dâu là kế toán xã. Ông A đưa ra chủ trương làm một cây cầu thu tiền trên con đường liên xã, giao cho UBND vận hành, gác cầu thu tiền, nộp cho kế toán là cô con dâu, đích thân ông A sẽ giám sát việc chi tiền của xã để xây cầu và việc vận hành khai thác sử dụng dưới sự cố vấn pháp lý của con trai ông ấy. Nếu ở đâu đó có sự kiện tương tự thì sẽ như thế nào?)   

 Montesquieu luận chứng rằng: việc phân quyền không có nghĩa là phân chia quyền lực, mà chỉ có nghĩa là phân chia quyền năng của một chủ thể quyền lực duy nhất (toàn thể nhân dân). Đó là nhân dân giao các chức năng (quyền năng) khác nhau của quyền lực cho ba cơ quan tương ứng của bộ máy nhà nước là: Nghị viện (quốc hội- cơ quan lập pháp), Chính phủ (cơ quan hành pháp) và Toà án (cơ quan tư pháp). Còn quyền lực là thống nhất bởi vì nó thuộc về nhân dân chứ không thuộc về nhà nước. Nhà nước không phải là chủ thể của quyền lực mà chỉ là “vật  mang” quyền lực đó. Theo ông thì: “Quyền lực tối cao được thiết lập từ những cá thể thành viên hợp lại tạo ra nó, cho nên nó không có và không thể có lợi ích nào trái ngược với các thành viên”.

Quyền lực tối cao là cái không thể từ bỏ được vì nó là sự thể hiện của ý chí chung và vì bản thân nó là kết quả của sự tổng hợp. Cái có thể phân chia được không phải là bản thân quyền lực ấy mà là quyền năng của quyền lực ấy (các chức năng).

(Sở dĩ quyền lực công cộng có các quyền năng khác nhau là vì đối tượng điều chỉnh của quyền lực ấy khác nhau chứ không phải vì bản thân quyền lực ấy được cấu thành từ ba “mảnh vụn” quyền lực. Quyền lực vẫn là một, là duy nhất và thuộc về nhân dân. Mỗi cá nhân chúng ta không vỗ ngực tự nhận “tôi là nhân dân”, nhưng mỗi chúng ta là “một người dân” cùng với nhiều người dân khác để tạo nên “Nhân dân”. Vì vậy nếu công chức ở UBND phường xã nào đó mà hạch sách một người dân thì đó là dấu hiệu chỉ ra cơ quan nhà nước đó chưa vì dân như khẩu hiệu treo ở tường văn phòng ủy ban).

Nhà triết học Đức I.Kant, người được coi như Copecnic lần thứ hai trong lịch sử đặc biệt quan tâm đến cơ chế phân quyền của quyền lực công cộng, vì đây là cơ sở để đảm bảo rằng nhà nước không lạm quyền và xâm hại tự do của công dân. Cơ chế (nguyên tắc) đó như sau:

Toàn bộ quyền lực là thuộc về nhân dân.

+ Nhân dân (chủ thể của quyền lực) giao các quyền năng khác nhau của quyền lực ấy cho những cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ nhằm mục đích để chúng kiểm tra giám sát lẫn nhau, sao cho việc sử dụng quyền lực không sai mục đích và sao cho quyền lực ấy không tha hoá biến chất trở thành lực lượng xa lạ quay lại thống trị họ.

+ Nhờ sự phân quyền (quyền năng) như vậy mà nhà nước (cụ thể là giới quan chức nhà nước) không thâu tóm được toàn bộ các quyền năng để trở thành độc tài. Cũng nhờ sự phân chia ấy, mà không có một cơ quan nào của nhà nước lại không bị ràng buộc bởi pháp luật và lại không bị kiểm thúc bởi các cơ quan khác nhằm giữ cho việc sử dụng quyền lực công cộng không bị đổi hướng.                          

Tất cả những dấu hiệu trên đã nói lên rằng, toàn bộ xã hội văn minh đang sống trong các nhà nước pháp quyền. Đó là phương thức tổ chức quyền lực tiến bộ nhất đang tồn tại trên thực tế.

Vậy những ai hiểu chưa đúng về bản chất của tam quyền phân lập thì nên hiểu cho đúng ngọn nguồn, không nên hiểu nó là phản động. Thuật ngữ “phản động” theo nghĩa triết học thì nó chính là phản vận động, tức là đi ngược lại xu thế vận động theo quy luật khách quan của thế giới khách quan. Một người mẹ vì yêu cái đứa con bé bỏng thơm tho của mình quá mà bảo là “con ơi con cứ bé bỏng như thế này mãi để mẹ được bồng bế con trong vòng tay của mẹ” thì đó là phản động đấy, vì mong muốn đó đi ngược lại với quy luật khách quan của con người là phải lớn lên để thoát khỏi vòng tay của mẹ nó. Dĩ nhiên, chả ai lại phản động như thế cả, đó chỉ là ví dụ minh họa thôi. 

Chúng ta cũng có thể không dùng thuật ngữ “tam quyền phân lập” để tránh sự hiểu lầm sang trạng thái phản động gì gì đó, nhưng rõ ràng là chúng ta cần một CƠ CHẾ PHÂN QUYỀN của quyền lực công cộng để giới quan chức không thâu tóm toàn bộ quyền lực, trở thành độc tài.  

Diện mạo của những nhà nước pháp quyền tư sản có giống nhau không?

Nền dân chủ tư sản đã ra đời trên cơ sở biến nhà nước chuyên chế và tập quyền phong kiến thành nhà nước pháp quyền, đồng thời biến xã hội thần dân thành xã hội công dân. Nhưng do những đặc điểm khác nhau mà diện mạo của nhà nước pháp quyền không giống nhau ở các quốc gia. Tuy nhiên, những dấu hiệu sau đây về nhà nước pháp quyền lúc nào cũng phải được bảo toàn:                           

Nguyên tắc tính tối cao của pháp luật (đặc biệt là tính tối cao của hiến pháp). Nhân dân tự định ra hiến pháp cho mình, tức là tự tay mình xây dựng nên một khế ước xã hội, trong đó quy định việc đóng góp quyền lực của mỗi công dân. Vì vậy, mọi đạo luật được nhà nước ban hành phải mang tiêu chuẩn đầu tiên là hợp hiến. Hầu hết hiến pháp của các nước đều quy định: nhân dân là chủ của mọi quyền lực. Do đó, mọi hành vi của nhà nước đều không thể đi ngược lại lợi ích của những người tạo lập ra nó.

Nguyên tắc phân công và phối hợp giữa các quyền năng cơ bản của quyền lực công cộng (nguyên tắc tam quyền phân lập: lập pháp, hành pháp và tư pháp)

Nguyên tắc dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp trong quản lý quyền lực công cộng (chế độ đầu phiếu phổ thông, chế độ ứng cử, quyền tham chính, quyền yêu cầu giải trình, quyền sáng lập và phế truất các đạo luật cũng như các nghị sĩ- đại diện)                      

Nguyên tắc nhân quyền                                   

Nguyên tắc tuân thủ các hiệp ước và luật pháp quốc tế đã ký kết   

Vậy có tồn tại hạn chế của dân chủ tư sản và nhà nước pháp quyền tư sản không?

Tất cả những ai đã học và nghiên cứu học thuyết C.Marx thì đều được dạy rằng học thuyết dân chủ với ba nội dung: tự do, bình đẳng, bác ái là chân thiện mỹ nhất. Nhưng nó được xuất hiện trong thời kỳ phát triển của xã hội tư bản và do giai cấp tư sản tiến hành. Hơn nữa nó lại được hiện thực hóa bằng nhà nước pháp quyền tư sản cho nên nó chứa đầy những hạn chế.

Những căn cứ để lập luận về sự hạn chế ấy như sau:

Về mặt lý thuyết, dân chủ chính trị thể hiện rằng quyền lực công cộng đang tồn tại dưới hình thái nhà nướcpháp luật bắt nguồn từ mỗi cá thể cấu thành nên cộng đồng đó. Bởi vậy, theo “lẽ phải thông thường” theo “luật tự nhiên” chúng phải thuộc về họ (nhân dân).

Thế nhưng, quyền lực công cộng (nhà nước và pháp luật) lại không phải là một sự vật trực quan để có thể nắm bắt và tuỳ dụng như các đồ vật thông thường. Để có thể sử dụng nó và vận hành nó đòi hỏi phải có kiến thức, sự am tường, năng lực và trình độ. Bởi vậy trên thực tế không phải ai cũng có thể tham dự một cách chủ động vào việc quản lý và điều hành quyền lực công cộng. Do vậy, nguy cơ tha hoá, trên thực tế là luôn tiềm ẩn, bởi lẽ chủ thể thực sự của quyền lực lại không tiếp xúc với nó ở trạng thái trọn vẹn và không trực tiếp vận hành nó.                                          

Dân chủ chính trị đề cao tự do cá nhân và các quyền tự nhiên của cá nhân. Giai cấp tư sản cũng áp dụng các chuẩn mực đó sang lĩnh vực kinh tế. Kết quả là các cá nhân trong kinh tế càng tự do bao nhiêu thì sự bất bình đẳng về kinh tế lại càng lớn bấy nhiêu: khoảng cách giàu nghèo càng dãn rộng. Việc đề cao thái quá tự do cá nhân trong môi trường kinh tế đã biến môi trường đó trở thành môi trường tự nhiên – bản năng “cá lớn nuốt cá bé, mạnh được yếu thua”.

           Có thể hiểu thế này: Do kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài nên kết quả là xã hội tư bản đã đạt được sự bình đẳng nhất định về điều kiện giữa các chủ thể kinh tế. Nhưng bình đẳng về điều kiện không hàm nghĩa là kết quả đạt được sẽ như nhau. Kết quả cạnh tranh trong xã hội tư bản (dù có diễn ra lành mạnh đến mấy) thì cũng sẽ khác nhau. Đến lượt nó, sự khác biệt về kinh tế lại tạo ra sự bất bình đẳng về chính trị. Theo đó, những người/những tổ chức có thế mạnh về kinh tế sẽ có cơ hội chiến thắng trong các cuộc chạy đua vào cơ quan công quyền (lý luận “Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng”), và đến lượt nó, những người trong cơ quan công quyền lại dùng vị thế của mình để thao túng các tổ chức kinh tế mà họ tham gia hoặc là sân sau của họ (lý luận “kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó”).

Chính là từ điểm mấu chốt ấy mà học thuyết C.Marx mới cho rằng cần phải khắc phục cái hạn chế của dân chủ tư sản, đó là phải xóa bỏ “sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất”, coi đó là cơ sở kinh tế của nền dân chủ tư sản để thiết lập một nền dân chủ mới, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa như chúng ta đã biết gần một thế kỷ nay.

KẾT LUẬN:

Bài viết này được viết với lý do đã trình bày ở đầu phần 1. Tác giả viết với một ý thức trình bày khách quan những nội dung cơ bản liên quan đến nội dung học thuyết dân chủ ở bình diện triết học và chính trị, hoàn toàn không có ý định chống lại học thuyết nào cả. Tác giả chỉ muốn nêu ra những điểm cơ bản để miêu tả thực chất chế độ tam quyền phân lập là gì theo nhận thức của mình, qua đó mong được học hỏi thêm từ các chuyên gia, nhằm trau dồi tri thức cá nhân.

Cũng là từ nhận thức cá nhân, tôi nhận thấy việc xác lập một cơ chế phân công các cơ quan quyền năng một cách rạch ròi, độc lập để tránh việc các quan chức nhà nước độc quyền là vô cùng cần thiết, mặc dù gọi tên cơ chế ấy là gì cũng được. Tôi biết chắc rằng, nếu các cơ quan nhà nước có một cơ chế phân công rõ ràng, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau thì nước ta đã không có hiện tượng công chức nhà nước phải cho vào “lò” nhiều như thế và không có nhiều án oan như thế.

         Hãy dừng việc nói đến những điều vô nghĩa như kiểu “Kiên quyết không lựa chọn những người xu nịnh, tham nhũng, suy thoái đạo đức vào các cơ quan đảng và nhà nước…” mà hãy cùng nhau bàn luận và trả lời câu hỏi “Làm thế nào để những cán bộ vốn đã được nhân dân tin cậy trước đó, bây giờ bầu vào các cơ quan nhà nước không phản bội lại nhân dân và phản bội lại lời hứa của chính mình trước quốc dân?”

           22/06/2020

T.S VŨ THỊ TÙNG HOA                                    

avatar
  Theo dõi  
Notify of