BLVN: Phát biểu của một đại biểu quốc hội làm dấy lên một cuộc tranh luận sôi nổi trên các diễn đàn về dân chủ, nhà nước pháp quyền và tam quyền phân lập. TS Vũ Tùng Hoa – nguyên trưởng khoa Chính trị trường ĐHSP Thái Nguyên có bài viết nhằm làm sáng rõ vấn đề còn tồn tại những nhận thức khác nhau này. BLVN trân trọng giới thiệu.

Mấy hôm nay trên truyền thông rộ lên cuộc tranh luận về vấn đề “tam quyền phân lập” sau khi một đại biểu quốc hội, đồng thời là một phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao phát biểu và nhận định về một “âm mưu phản động” liên quan đến việc cổ súy cho cơ chế tam quyền phân lập. Cũng vì cái lời phát biểu đó của ông phó chánh án mà bao nhiêu bài viết và bình luận đã được đưa ra.

Đọc các lời bình luận, tôi thấy có nhiều ý kiến thể hiện sự nhận thức sâu sắc về một nhà nước pháp quyền, về dân chủ và cơ chế tam quyền phân lập. Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều ý kiến chưa thể hiện sự nhận thức toàn diện, thậm chí có người còn hiểu sai bản chất của tam quyền phân lập và nhà nước pháp quyền, một hình thức nhà nước thực thi dân chủ tốt nhất cho đến hiện nay. Để tiện cho việc nhận thức và thảo luận của đại đa số người thuộc tầng lớp bình dân như tôi, tôi xin được đóng góp một số nội dung cơ bản đề cập đến cơ chế tam quyền phân lập.

Liên quan đến cơ chế này thì lại phải ngược dòng lịch sử đến vấn đề nhà nước pháp quyền, rồi ngược lại nữa, đó là vấn đề dân chủ. Đây là những vấn đề tôi được học trong trường và chủ yếu là đọc trong các cuốn sách triết học phương Tây đã được dịch sang tiếng Việt. Phần 1: Dân chủ Dân chủ là một khái niệm đa diện. Thuật ngữ dân chủ gồm hai nét nghĩa gốc gộp lại: Demos (nhân dân) và Kratein (cai trị). Như vậy thuật ngữ có nghĩa là nhân dân cai trị hay dân trị. Solon (638-559 BC) là người đầu tiên đặt nền móng cho nguyên lý dân chủ. Solon muốn xây dựng một nhà nước trên cơ sở một nền dân chủ, thông qua tuyển cử và hoà nhập sức mạnh với pháp luật.

Thuật ngữ dân chủ chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại ba yếu tố là: nhân dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa chúng. Nếu bàn luận “dân chủ” với tư cách là một triết thuyết chính trị, thì nó bao gồm một tổ hợp các giá trị nhân bản, duy lý và cao đẹp (hay nói gọn lại là chân, thiện, mỹ). Dân chủ là sự hoà hợp của các nội dung: +Tự do cá nhân (gọi tắt là tự do), +Bình đẳng về điều kiện (gọi tắt là bình đằng) +Sự thống nhất trong tính đa dạng (là sự khoan dung, hoà đồng, gọi tắt là bác ái).

Ở chiều cạnh này, dân chủ được hiểu như một lý tưởng mà con người khao khát hướng đến và cố gắng thực hành trong cuộc sống. Mỗi bước đi của lịch sử, đều là sự tiệm tiến đến ngày một gần hơn các giá trị đó. Nghĩa là ngày một đúng đắn hơn (chân), ngày càng tốt hơn (thiện) và ngày càng đẹp hơn (mỹ) Triết thuyết dân chủ còn hàm chứa các phương pháp luận giải khác nhau nhằm khẳng định tính hợp lý của các giá trị dân chủ. Nó đề ra các phương pháp thực hiện các giá trị đó trong đời sống, mà chủ yếu tập trung vào ba khâu quan trọng: nhà nước- pháp luật- xã hội công dân. Nghĩa là nó trả lời cho câu hỏi: Nếu các giá trị Tự do, Bình đẳng, Bác ái là chân thiện mỹ nhất thì làm thế nào để có được nó?

Thế nào là “tự do cá nhân”?Con người ta luôn phải đối mặt với tình huống phải duy trì sự cân bằng giữa hai khuynh hướng, đó là khuynh hướng khẳng định ý chí của mình một cách chủ động và khuynh hướng liên hiệp với những người xung quanh mình bằng cách tuân thủ các chuẩn mực được xã hội thừa nhận.(Ví dụ: cá nhân anh tại một thời điểm nào đó thích vượt đèn đỏ nhưng anh phải dừng lại vì anh nhận thức được rằng việc dừng lại là một chuẩn mực được xã hội thừa nhận. Nếu anh không dừng lại thì anh sẽ làm mất đi (tước đi) sự tự do của người khác, do vậy mà anh cũng sẽ có nguy cơ mất tự do). Trong chính trị, mối quan hệ đó trở thành vấn đề trung tâm, đó là câu hỏi: làm thế nào để hoà hợp được quyền lực công cộng với tự do cá thể?

Theo sự luận giải triết học, tự do là mục đích tối hậu, còn cưỡng chế chỉ là phương tiện để thực hiện sự tự do đó, mọi cưỡng chế không nằm ngoài mục đích đảm bảo cho mọi người đều được hưởng tự do. (Vẫn ví dụ trên, tự do được sống của con người là mục đích tối hậu. Đã sỉnh ra ở trên đời thì cá thể nào cũng có cái quyền và nghĩa vụ đầu tiên là được sống và phải bảo vệ cái mạng sống của mình. Nếu ai tự tước bỏ đi quyền được sống thì vô hình chung là người đó đã không giữ được phẩm giá con người của mình, đánh mất phẩm giá con người, là từ bỏ quyền làm người và cả nghĩa vụ làm người. Cho nên nếu đèn đỏ bật lên thì tín hiệu đèn đỏ đó chính là ý chí chung của cả cộng đồng đã thỏa thuận với nhau rằng ai gặp đèn đỏ thì phải dừng lại. Đó là một mệnh lệnh cưỡng chế anh phải dừng lại. Cái mệnh lệnh đó không phải của cảnh sát giao thông mà là của ý chí chung tất cả mọi người, trong đó có cả ý chí của anh và anh cảnh sát giao thông kia).

Tự do đối với mỗi cá thể được hiểu là: vận mệnh của mình phải do mình nắm giữ. Tự nhận thức được chủ quyền của mình không thể phó mặc bản thân mình cho kẻ khác. Mình là chủ thể và chủ sự của quyền lực. Đây cũng chính là sự khởi đầu của ý thức dân chủ.(Ví dụ minh họa: Nếu anh bị đau ruột thừa thì anh phải đến bệnh viện và tự tay mình “ký tên vào bản tự nguyện”, giao thân mình cho bác sĩ phẫu thuật mổ cứu mình chứ không ai có quyền quyết định mạng sống của mình bằng mình, trừ khi bị hôn mê bất tỉnh. Cũng không ai được quyền động vào cơ thể mình, kể cả một cái móng tay hay sợi tóc).

Mọi hình thức của quyền lực công cộng chỉ có thể đứng vững khi chúng phục vụ cho mục đích tối hậu này.Lưu ý là cần phân biệt tự do cá nhân với tự do bản năng thú tính:Trong con người luôn tiềm ẩn một thứ tự do đồi bại như loài cầm thú, đó là thứ tự do làm theo sở thích mang tính bản năng thuần túy. Tự do thú tính kiểu này (thích cướp, giết, hiếp là cướp, giết, hiếp) là kẻ thù của mọi chuẩn mực đạo đức xã hội. Nó không nhẫn nại chịu đựng các thứ quy tắc. Với nó, con người trở nên đê hèn, nó tước đoạt đi tự do của cá thể khác và rốt cuộc tự huỷ diệt chính nó.Còn tự do mang tính người là tự do nhuốm màu sắc lý tính, tự do ấy phải hiện hữu dưới dạng tự do ý chí, tức là quyền của cá nhân được khẳng định ý chí của mình với tư cách là con người có ý thức.

Với thứ tự do này, con người khôn ngoan luôn biết cách tìm kiếm sự liên kết với những người xung quanh để “cùng tồn tại” ngày một hạnh phúc hơn. Thế nào là “bình đẳng về điều kiện”? Bình đẳng về điều kiện là yếu tố tất yếu của đời sống xã hội. Nó khẳng định rằng: các quyền tự nhiên của mọi cá thể là như nhau, đó là:-Quyền được sống (như trên đã đề cập) -Quyền được mưu sinh (là quyền được kiếm việc làm dựa trên năng lực của mình để đảm bảo quyền được sống của mình). Đứa trẻ chưa tự mưu sinh được thì phải được quyền “bú tí mẹ”. -Quyền mưu cầu hạnh phúc (quyền khẳng định giá trị người ngày càng cao) Mỗi người đều có cơ hội như nhau về mặt pháp lý để phát triển khả năng của mình.

Bình đẳng về điều kiện không thủ tiêu sự khác biệt giữa các cá thể và giữa các cộng đồng dân tộc. Một người muốn được hưởng tự do, thì phải chấp nhận tự do của những người khác. Mỗi nhân cách trong xã hội là một sự độc đáo, không lặp lại do đó là duy nhất và bởi vậy mà những cái duy nhất ấy cần phải được bình đẳng với nhau. Bình đẳng ở đây là bình đẳng về cơ hội để phát triển và áp dụng tài năng. (Ví dụ: Những người kinh doanh cùng một mặt hàng ở cùng một địa phương thì cần được bình đẳng với nhau về điều kiện kinh doanh và trách nhiệm đóng góp với cộng đồng. Những người nông dân trồng lúa cũng cần được bình đẳng với nhau trong việc tiếp cận các nguồn lực và thành tựu khoa học như vốn, công nghệ…) Do đó trong môi trường xã hội, người ta phải tiến hành trừ bỏ đặc quyền của sự xuất thân, của giai cấp và mọi đặc quyền tổ tông.

Trong xã hội ta hiện nay, nếu vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực và điều kiện tiến hành cuộc mưu sinh thì đó chưa phải là điều kiện cho dân chủ.(Ví dụ: Hiện tượng “con ông cháu cha” nắm giữ các dự án khai thác tài nguyên thiên nhiên và xây dựng cơ bản liệu có tồn tại không?) Theo Alexis De Tocquevill (1805- 1859), bình đẳng về điều kiện là yếu tố không thể thiếu của nền dân chủ.Cùng với sự phát triển của làn sóng dân chủ và cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước thuộc địa, bình đẳng về điều kiện phát triển thành quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. Thế nào là “sự thống nhất trong tính đa dạng”? Nhờ thống nhất ý chí, các cá thể khác biệt hợp thành xã hội và tạo ra quyền lực công cộng. Đây là điều kiện để tự do cá nhân được bảo tồn, tôn trọng và nảy nở hết tầm vóc.

Do vậy, sự khác biệt của mỗi cá thể chẳng những được dân chủ chấp nhận mà còn được coi như nền tảng cho sự thống nhất giữa các thành viên trong xã hội. Mọi người bình đẳng trong quan hệ với nhau vì mỗi người tìm thấy cái thiếu của mình ở nhiều người khác. Do đó, các cá thể hút vào nhau, tuỳ thuộc nhau, tạo thành một khối thống nhất trong sự khác biệt.(Ví dụ: có người hát hay và có người đá bóng giỏi, lại có người trồng lúa năng suất cao…Người nông dân trồng lúa phục vụ những cá thể không trồng lúa mà cần có lương thực. Cô ca sĩ tìm thấy cái mình thiếu (gạo) ở ông nông dân, tìm thấy cái thiếu của mình ở nhà sáng chế xe máy, ô tô, tàu hỏa, máy bay, xây dựng công trình… Nhưng người nông dân thì lại mua vé để được nghe cô ca sĩ hát…Người nông dân phải tôn trọng cô ca sĩ và ngược lại, để họ được tự do sáng tạo và làm ra những thứ mà mình đang thiếu một cách hoàn thiện nhất, để mình được hạnh phúc).

Do đó, không nên hiểu dân chủ chỉ đơn thuần là sự thống trị của số đông, mà còn phải hiểu dân chủ như môi trường nuôi dưỡng và bảo tồn các bộ phận thiểu số trong xã hội, là sự khoan dung và chấp nhận lẫn nhau giữa chủ quyền của thiểu số và đa số. Từ chiều cạnh triết học đến chiều cạnh chính trị của dân chủ Với tư cách là một chế độ chính trị, dân chủ đối lập với chế độ quân chủ chuyên chế hay chế độ thần quyền (đặc trưng cho nhà nước phong kiến cả phương Đông lẫn phương Tây) và chế độ cực quyền (nhà nước độc tài, nhà nước cảnh sát) Về thực chất, dân chủ chính trị là sự phản chiếu của triết lý dân chủ vào trong đời sống hiện thực, là sự trả lời cho câu hỏi: nếu các giá trị tự do, sự bình đẳng về điều kiện, thống nhất trong tính đa dạng là chân, thiện, mỹ nhất thì con người phải làm gì để có được chúng?

Chủ thuyết dân chủ chính trị dựa trên những tiền đề sau để giải quyết: mỗi cá nhân là chủ nhân của chính bản thân mình. Đó là chủ quyền tuyệt đối mà không một ai có thể xâm phạm. Do đó mỗi cá nhân phải tự nhận thức được rằng: chủ quyền của mình không được phó mặc cho kẻ khác. Thế nên, để có được tự do, bình đẳng, bác ái, đối tượng đầu tiên cần tác động là quyền lực công cộng (tồn tại dưới dạng nhà nước và pháp luật) sao cho quyền lực ấy trở về tay người chủ thật sự của nó là nhân dân, sao cho quyền lực ấy vận hành theo ý chí chung và phục vụ lợi ích của nhân dân.

Tư tưởng cơ bản nói trên của dân chủ chính trị được cụ thể hoá thành các nguyên tắc cai trị xã hội, đó là:(1) Tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân; nhà nước, pháp luật và các thiêt chế công quyền chỉ là đại diện thừa hành, hay công cụ tiện dụng của nhân dân nhằm thực hiện quyền lực ấy một cách có tổ chức và hiệu quả mà thôi.(2) Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật (3) Quyền tự do tư tưởng, ý chí (bao gồm ngôn luận và tín ngưỡng) của cá nhân(4) Nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số(5) Nguyên tắc quyền của thiểu số (6) Nguyên tắc bảo đảm các quyền cơ bản của con người (7) Nguyên tắc bầu cử tự do và công bằng(8) Nguyên tắc hạn chế quyền năng nhà nước bằng hiến pháp (9) Nguyên tắc thống nhất trong tính đa dạng các khuynh hướng xã hội (kinh tế, sắc tộc, tôn giáo, văn hoá…) (10) Nguyên tắc hoà giải, hợp tác, khoan dung và đối thoại trong giải quyết các xung đột trong lòng xã hội công dân cũng như trong quan hệ quốc tế. Vậy những điều kiện cần và đủ nào để cho dân chủ chính trị có thể nảy sinh?

Điều kiện cần: Phải có sự chín muồi về các điều kiện kinh tế- xã hội và kèm theo đó là sự chín muồi về dân trí.Điều kiện đủ: Phải có những hoạt động thực tiễn cách mạng mang tính vật chất của nhân dân, nhằm biến đổi phương thức tổ chức và vận hành nhà nước cũng như thay đổi tính chất của mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội công dân. Lịch sử nhân loại đã ghi nhận rằng, dựa trên những điều kiện cần và đủ như đã nêu trên thì một hình thức nhà nước đã xuất hiện để thực thi dân chủ, đó là thành tựu mà nhân loại đã đạt được khi chủ nghĩa tư bản phát triển, nên người ta gọi nó là DÂN CHỦ TƯ SẢN và NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN TƯ SẢN. Ở phần tiếp theo, tôi sẽ xin phép được nói đến bản chất của nhà nước pháp quyền tư sản và liên quan đến nó là cơ chế tam quyền phân lập.

avatar
  Theo dõi  
Notify of