BBT: Tự tìm đường, luôn đặt ra câu hỏi và tìm cách trả lời, tác giả Nhật Nguyệt Minh đã đến thành phố Boston – cái nôi lịch sử, văn hóa Mỹ. Cuộc gặp với GS Tom Peterson đã giúp anh trả lời một vài câu hỏi và lại gợi ra những câu hỏi mới. Qua câu chuyện của anh, thấy rõ hơn tư tưởng , tầm vóc Hồ Chí Minh , đặc biệt là tầm nhìn về quan hệ Việt – Mỹ. Nhân dịp kỉ niệm 25 năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ , BLVN trân trọng giới thiệu bài viết này.

Hồ Chí Minh đã thay đổi nước Mỹ.

Tôi gặp GS Tom Peterson lần đầu tiên tại phòng làm việc của ông trong trường Quản lý Nhà nước J.Kenedy, theo sự giới thiệu của anh Nguyễn Anh Tuấn – nguyên TBT báo điện tử Vietnamnet. Sau cái bắt tay, ông nói, Nam, tôi đã nghe nói về cậu. Tôi đáp lễ, nói cảm ơn ông vì đã dành thời gian đón tiếp mặc dù rất bận.

Phòng làm việc của ông không rộng, khoảng 20m2 với rất nhiều sách và tài liệu, những chồng giấy chất cao trên bàn, cùng các kỷ vật được bày biện hơi vội vàng theo kiểu tiện đâu để đấy, một phong cách thường thấy của những người chuyên làm nghiên cứu. Ông là một GS nổi tiếng, có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu, từng giúp việc cho mấy đời Tổng thống (Clinton, Bush…), không mầu mè diêm dúa, vẫn còn đó chút khoáng đạt ngang tàng của chất cao bồi, nhưng vẫn toát lên vẻ giản dị, lịch thiệp của một người trí tuệ. Nước Mỹ là vậy.

Sau khi chủ khách đã an tọa, ông bắt đầu câu chuyện bằng những suy nghĩ về một nhân vật lịch sử rất nổi tiếng ở Việt Nam – Hồ Chí Minh. Tôi hoàn toàn bất ngờ. Phải nói rằng, ông đã đọc, đã suy nghĩ và đã hiểu những gì cơ bản của nhân vật lịch sử này. Nghe ông nói, tôi hiểu ông rất trân trọng Hồ Chí Minh, nếu thoáng qua ta có thể tưởng đó là của một nhà nghiên cứu Việt Nam, hoặc là của nước Nga vốn đã từng là đồng minh với mình, chí ít, cũng có thể của một nước phương Tây đã từng gần gũi với chúng ta như Pháp chẳng hạn. Không! Ông là một GS người Mỹ.

Ông nói:

Hồ Chí Minh đã đến, đã sống và lao động ở nước Mỹ, chính tại thành phố Boston này, và đất nước này đã có một ấn tượng rất tốt đối với Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã học được những điều cơ bản của một Quốc gia, của quyền con người trong một xã hội dân chủ ở đây.

Lần đầu tiên Hồ Chí Minh được biết đến với cái tên Nguyễn Ái Quốc, khi viết những dòng khiêm tốn qua tên gọi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam”, gửi đến Tổng thống Wilson vào năm 1919 tại hội nghị của những nước thắng trận sau Thế chiến 1 ở Versailles (Pháp), yêu cầu những quyền cơ bản của người dân đang chịu những cảnh sống khốn khổ dưới sự cai trị của Thực dân Pháp. Việt Nam khi đó không phải là một Quốc gia độc lập nhưng nhân dân An Nam vẫn là những con người, họ có quyền được hưởng những quyền căn bản của con người như: cơm ăn, áo mặc, quyền được đi học, quyền được chăm sóc y tế… những điều mà Hồ Chí Minh đã được chứng kiến ở nước Mỹ. Nhưng rất tiếc, Tổng thống Wilson đã không quan tâm đến.

Đó là một điều đáng tiếc. Sau này, Hồ Chí Minh tìm đến sự ủng hộ từ Liên Xô của Lên Nin, lúc này cũng đang đề cập đến vấn đề của những nước thuộc địa. Tôi có thể khẳng định, Lê Nin đã không quan tâm đến đúng bản chất vấn đề của thuộc địa, ông ta chỉ muốn nói đến nó như một phương diện muốn làm suy yếu đi sức mạnh của chủ nghĩa tư bản, đấy là một sai lầm tai hại mà mấy chục năm sau chúng ta đều phải trả giá.

Sau cái nhún vai, ông nói tiếp.

Lần thứ hai là vào những năm 1945 – 1946, khi đó Hồ Chí Minh đã là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ông đã viết thư tìm kiếm sự ủng hộ của Tổng thống Truman. Nhưng, một mặt đang lo lắng xây dựng liên minh với Pháp để chống Liên Xô, mà Pháp đã ra điều kiện với Hoa Kỳ về vấn đề thuộc địa của họ đối với Đông Dương, một mặt nước Mỹ đang lo sợ quan điểm của học thuyết Domino nói về sự bành trướng của CNCS, mà Hồ Chí Minh đã từng là thành viên của Quốc tế Cộng sản, nên đã không đáp ứng sự yêu cầu đó.

Một sai lầm khủng khiếp, Nam. Cậu có hiểu điều tôi muốn nói không?

Tôi gật đầu.

Ông nói tiếp.

Mọi sai lầm sau đó cứ tự nhiên diễn ra như đã được sắp đặt từ trước. Sai lầm nối tiếp sai lầm trong mối quan hệ giữa hai dân tộc. Ngay từ ngày đầu tiên, nước Mỹ đã có cái nhìn sai lầm đối với Hồ Chí Minh cũng như đối với Việt Nam. Tóm lại, nước Mỹ đã không nhìn nhận được đúng con người Hồ Chí Minh. Theo tôi hiểu, Hồ Chí Minh chưa bao giờ thật sự coi người Mỹ là kẻ thù trong khi nước Mỹ lại thi hành nhiều chính sách có thể nói là bất công đối với ông ấy.

Sau chút ngập ngừng, ông nói. Những gì đã xảy ra giữa hai đất nước là một điều đáng tiếc. Chúng ta ai cũng hiểu nó không nên có, nhưng sự thật vẫn là sự thật, chúng ta không thể thay đổi được điều đó. Cách tốt nhất là bây giờ chúng ta phải bù đắp những mất mát do những sai lầm từ trong quá khứ gây ra. Những người hiểu biết về lịch sử giữa hai dân tộc cần phải ngồi với nhau để nói chuyện, để bàn xem có thể làm được gì tốt nhất cho nhau, nhất là với phía Việt Nam.

Tôi đang thắc mắc, bằng một lí do gì mà một ông GS người Mỹ lại có thể mất công ngồi suy nghĩ và nói rất nhiều về một nhân vật lịch sử của Việt Nam. Ông đang muốn bù đắp cho những thiếu sót của quá khứ, mà một phần nào đó, những người tiền bối của nước ông đã có một phần trách nhiệm. Ông đã suy nghĩ về vấn đề này từ lâu, nó được dồn nén đến khi ông thấy cần phải nói, và hôm nay ông đã nói ra với một người Việt Nam được sinh ra và lớn lên từ sau chiến tranh như tôi, rằng từ lâu chúng ta đã sai lầm, mặc dù chúng ta không phải là người gây ra sai lầm đó, nhưng chúng ta vẫn phải có trách nhiệm với nó.

Bằng một phong cách hài hước và pha chút thú vị, ông nói với tôi. Nam! Ở Boston có một khách sạn, Hồ Chí Minh đã từng sống và làm việc ở đấy với một cương vị rất khiêm tốn, nếu có thời gian hãy ghé qua thăm, có lẽ nó sẽ mách bảo cho cậu được nhiều điều. Cậu thấy đấy, Hồ Chí Minh đã đến đây, học hỏi từ đây và đã thay đổi Việt Nam từ đây. Ông ta là một nhân vật vĩ đại.

Khi bắt tay chào tạm biệt, như còn một điều gì lưỡng lự, ông đã nói với tôi pha chút ngập ngừng: Cậu có biết không? Hồ Chí Minh đã thay đổi cả nước Mỹ. Đó là sự thật. Cậu nên tự hào về điều đó.

Sau đó mấy hôm, trong một bữa cơm gia đình tại nhà ông, ông đã tặng tôi một món quà rất ý nghĩa, đó là một bức tranh về khách sạn Parker House, nơi Hồ Chí Minh đã làm việc ở đó. Ông đã ngồi ghi trực tiếp mấy chữ lên đằng sau bức tranh và nhắn nhủ với tôi, Hồ Chí Minh đã đến đây và mọi chuyện đã bắt đầu từ đây. Điều quan trọng là chúng ta đã gặp nhau.

Có một điều chưa rõ ở đây.

Sau khi được gặp và được nghe những suy nghĩ của GS Tom Peterson nói về Hồ Chí Minh, một câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu tôi, dẫu rằng đã có một chương đen tối trong mối quan hệ giữa hai nhà nước Việt Nam – Hoa Kỳ, nhưng có một giai đoạn rất ngắn, họ đã từng ở rất gần nhau, đó là giai đoạn gần cuối của Thế chiến thứ hai; Nhưng vì lý do gì mà Hồ Chí Minh là người đang có mối quan hệ tốt đẹp với Mỹ như thế, bỗng nhiên phút chốc bị phủi sạch trơn? Có thể nói rằng, không có chuyện Hồ Chí Minh không mong muốn thiết lập quan hệ tốt đẹp với Mỹ, vì chúng ta nên nhớ, trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, những dòng chữ đầu tiên và cũng là những dòng chữ cuối cùng với tư cách một nhà chính trị, đều là những lá thư ông gửi cho Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

Cứ ngồi lần mò dần qua các mốc thời gian cùng với những dữ liệu lịch sử, ta cảm nhận được có một sự bất bình thường ở đây, điều như GS Tom đã nói, Hồ Chí Minh có một ấn tượng tốt đẹp với nước Mỹ trong khi nước Mỹ đã thi hành nhiều chính sách bất công với ông ấy.

Ở đây, ta thấy Hồ Chí Minh với sự nhạy cảm phi thường trước những biến động của thời cuộc, tầm trí tuệ mẫn tiệp và sự hiểu biết sâu sắc thế giới của ông hầu như được quan niệm phổ biến là “giản dị, thực tiễn”, nếu nghĩ sâu hơn một chút, chúng ta chợt nhận ra rằng còn có nhiều điều khó để hiểu đúng, hiểu đủ một cách rõ ràng. Có lẽ chính số phận đặc biệt của con người Hồ Chí Minh đã ẩn chứa sẵn những mâu thuẫn, hay là do đặc thù hoàn cảnh bắt buộc, cũng không biết nữa, mà ngày hôm nay để nói về ông có rất nhiều ý kiến trái triều, gây tốn không biết bao nhiêu thời gian cũng như là bút mực của các nhà nghiên cứu. Ở đây, tôi thiên về lối suy nghĩ mang tính cảm quan, phải chăng vì là những người bình thường nên nhiều người hiện nay không thể nắm bắt nổi những tư tưởng sâu sắc của một thiên tài? Bài viết này mong mỏi đóng góp được một ít (rất ít thôi) về Hồ Chí Minh trong cách ông nghĩ, ông hiểu và ông mong muốn ở nước Mỹ, cũng như nhân dân Mỹ.

Đầu tiên ta phải đặt câu hỏi, khi ra đi tìm đường cứu nước bằng suy nghĩ “Muốn đánh bại kẻ thù phải hiểu rõ kẻ thù”, không biết vì lý do gì, người thanh niên Nguyễn Tất Thành lại không chọn nước Pháp là nơi đến đầu tiên mà lại chọn Hoa Kỳ (1911-1913), và tiếp đó là Anh (1913-1917)? Câu hỏi này không dễ trả lời, bởi không ai trong chúng ta trải qua những ngày tháng đó cùng ông để biết và nói rõ được. Những suy luận chỉ là giả thiết nghiên cứu và đã là giả thiết thì mong được chấp nhận khả năng ngược chiều của chính nó.

Chúng ta cùng nhớ, kể từ khi Cách mạng Hà Lan (1566) sau đó là Cách mạng Tư sản Anh (1642) bùng nổ thì chủ nghĩa tư bản đã dần được thiết lập trên phần lớn địa cầu, chặng đường đi đến thời điểm này cũng đã được gần 500 năm. Dù sử sách “chính thống” của nhà nước ta không muốn nhìn nhận đi nữa, thì cũng không thể phủ nhận được rằng, Mỹ là thuộc địa đầu tiên trong thời đại chủ nghĩa tư bản đã giành được độc lập, nếu nói theo cách của những nhà sử học Mác xít – Lê Nin nít thì đây chính là “Lá cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc”. .

Mỹ cũng là nước lần đầu tiên trong lịch sử loài người đã ghi rõ những điều thiêng liêng về quyền và giá trị của con người vào trong bản Tuyên ngôn Độc lập (4/7/1776) như sau: Con người được sinh ra một cách bình đẳng – Every men are created equal; Được sáng tạo ra bởi Đấng Sáng Tạo – Created by The Creator.

Đáng kể hơn nữa là từ 13 thuộc địa đầu tiên của Anh ở miền Đông, Mỹ đã nhanh chóng mở rộng lãnh thổ chiếm hữu của mình bằng rất nhiều cách khác nhau, rồi dần dần trở thành cường quốc, đóng góp đắc lực vào mọi mặt của cuộc sống quốc tế, từ văn hoá đến kinh tế, chính trị, quân sự… (tính từ thời điểm sau chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha, đánh dấu cường quốc mới nổi và khai tử hệ thống cường quốc cũ).

Xa và cao hơn nữa, chính tinh thần của bản Tuyên ngôn Độc lập nước Mỹ với chủ trương: Con người có quyền sống, quyền tự do và quyền kiếm tìm hạnh phúc… thật sự có một sức hấp dẫn vô cùng lớn với Hồ Chí Minh lúc đó, nếu nói không quá thì có thể được coi là một phát hiện vĩ đại của ông tại vùng đất xa lạ này.

Như vậy ta thấy, cả 4 sự kiện nói trên của nước Mỹ đã đưa đến những suy nghĩ có tính cách mạng ban đầu đối với Hồ Chí Minh, trong đó, tự do là điều mong mỏi thiết tha nhất. Chính ông đã viết “Quyền tự do, mà thiếu nó thì con người là một tên nô lệ khốn khổ”(1). Ở đây, sự tương đồng về thân phận đều là thuộc địa, sẽ là sự tương đồng về khát vọng cháy bỏng “Sánh vai với các cường quốc năm châu”; Trong đó có cả sự tương đồng về nỗi ám ảnh “Quyền tự do và kiếm tìm hạnh phúc…”, tất cả đã cộng hưởng để Hồ Chí Minh sống, lao động và học tập hơn 2 năm trời ở nước Mỹ.

Đến đây, chúng ta lại phải giật mình vì “định mệnh” đã đưa Hồ Chí Minh tới thành phố Boston – nơi mở đầu cách mạng Mỹ vào ngày 17/12/1773 (trong sách vở được nhắc đến với tên gọi sự kiện “Tiệc trà ở Boston” – thuộc cảng Boston, Massachusetts), dấu ấn này mạnh mẽ tới mức, sau này khi là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã lấy câu mở đầu của Tuyên ngôn độc lập Mỹ để bắt đầu bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa.

Thứ đến, lời viết đầu tiên trong cuộc đời cầm bút không ngừng nghỉ của Hồ Chí Minh là thư gửi trưởng đoàn Hội nghị Versailles, tức Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson vào đầu tháng 6/1919, với bút danh là Nguyễn Ái Quốc, sau này được nhắc đến với tên gọi phổ biến “Bản yêu sách của nhân dân An Nam”; Bài viết cuối cùng cũng lại là thư gửi Tổng thống Richard M.Nixon ngày 25/8/1969, nghĩa là chỉ còn hơn một tuần trước khi ông ra đi. Chúng ta không thể nói về cái đầu tiên và cuối cùng đó bằng hai chữ ngẫu nhiên.

Sẽ chẳng có sự ngẫu nhiên nào cả khi chúng ta sắp xếp đủ một chuỗi các sự kiện:

– Đến Mỹ và ở lại Mỹ trước tiên;

– Câu viết đầu tiên, mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt nam DCCH ngày 2/9/1945 bằng những dòng đầu tiên trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ;

– Đích thân đưa viên phi công Shaw đến Côn Minh trao trả cho người Mỹ, gặp tướng Claire L. Chennault (2) – Mở ra hợp tác Việt – Mỹ bắt đầu từ những năm 1943 – 1945. Đổi lại, ngay lập tức các đơn vị đặc nhiệm OSS của quân đội Hoa Kỳ đã được điều tới vùng núi rừng Việt Bắc để giúp Việt Minh đánh Nhật. Điều đó có nghĩa là chính những quân nhân Mỹ mới là những người đầu tiên huấn luyện cho những chiến sĩ đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam các bài học cơ bản về chiến đấu, cũng như cách sử dụng điện đài, cách gài đặt chất nổ… Cùng với đó là rất nhiều vũ khí, đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng đã được chuyển đến. (3)

Tác giả Nhật Nguyệt Minh và GS Tom Peterson tại đại học Harvard , tháng 5/2015

Và còn nhiều… nhiều nữa. Ví dụ như, tuy chưa đủ tài liệu để chứng minh, nhưng tôi có thể lập luận rằng 20 vạn quân Tàu – Tưởng đang tràn ngập khắp miền bắc vĩ tuyến 16 lúc bây giờ, với chủ trương “Diệt cộng cầm Hồ” đã không dám và không thể lật đổ nổi Chính phủ Việt Nam DCCH trong những ngày đầu trứng nước, có lẽ có một phần nguyên nhân là bởi sự hiện diện thường xuyên của các sĩ quan tình báo Mỹ bên cạnh Hồ Chí Minh. Nghĩa là sự hợp tác chặt chẽ Việt – Mỹ trong những năm chống Nhật trước đó là sự bảo đảm cho một sự hỗ trợ không chính thức, và tự nó đã đủ khả năng ngăn cản mọi mưu toan đen tối từ phía quân Tàu – Tưởng.

Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn khi chúng ta đọc lại những lá thư Hồ Chí Minh gửi viên sĩ quan Mỹ, trung uý Fenn, trước khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, đã bày tỏ mong muốn liên minh với Hoa Kỳ. Bằng kinh nghiệm và sự sắc sảo của mình, Hồ Chí Minh biết rất rõ rằng sự ra đi nhanh chóng của người Mỹ khỏi Việt Nam sẽ làm cho “Mối quan hệ giữa ông và chúng tôi trở nên khó khăn hơn” “Tôi trông chờ ngày hạnh phúc được gặp ông và những người bạn Mỹ của chúng ta ở Đông Dương hay trên đất Mỹ”. (4) Xin lưu ý rằng bức thư này được viết vào tháng 8 năm 1945, xét về ngôn ngữ ngoại giao, bày tỏ niềm hạnh phúc khi được gặp những người bạn là cấp độ cao nhất của ngôn từ. Sự cao nhất đó còn được tăng thêm bằng việc nhấn mạnh rằng có thể gặp bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào để đạt được những thỏa thuận hợp tác sâu rộng!

Luận cứ này được chứng minh đầy đủ hơn khi ta đọc tiếp thư của Hồ Chí Minh gửi Ngoại trưởng Mỹ James F. Byrnes đề ngày 1/11/1945: “Nhân danh Hội Văn hóa Việt Nam, tôi xin được bày tỏ nguyện vọng của Hội được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ, với ý định, một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ, mặt khác để xúc tiến việc nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác. Nguyện vọng mà tôi đang chuyển tới Ngài là nguyện vọng của tất cả các kỹ sư, luật sư, giáo sư Việt Nam, cũng như của các đại biểu trí thức khác của chúng tôi mà tôi đã gặp. Trong suốt nhiều năm nay họ quan tâm sâu sắc đến các vấn đề của nước Mỹ và tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ – là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý mang tính nhân bản quốc tế cũng như những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam”.(5)

Ngay từ ngày đó, Hồ Chí Minh đã biết vận dụng hình thức đối ngoại nhân dân thông qua các tổ chức phi chính phủ, ngõ hầu đạt được sự ủng hộ về mặt ngoại giao của các nước, nhất là Mỹ.

Bức thư gửi nhân ngày Lễ các Thánh của đồng bào Công giáo, Hồ Chí Minh đã suy xét rất kỹ bằng cách tiếp xúc, gặp gỡ với rất nhiều trí thức trước khi đưa ra quyết định táo bạo, cần thiết và nhanh chóng để mở đầu cho một quan hệ mới mẻ với Hoa Kỳ. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng với trăm công nghìn việc diễn ra hàng ngày, khi nhân dân Nam Bộ bắt đầu kháng chiến chống Pháp (miền Nam đi trước về sau), khi nước Việt Nam DCCH ra đời chưa đầy 2 tháng thì quyết định đó là một sự nhạy cảm phi thường của một thiên tài với tâm huyết muốn cho dân giàu nước mạnh một cách đúng đắn, hợp lý, chứ không phải dựa vào bất kỳ một lý thuyết viển vông nào!

Rất tiếc là chúng ta chưa có đủ tư liệu để xem vì sao quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ không thành, để rồi sau đó nước ta lâm vào hoàn cảnh chiến tranh mấy chục năm tang thương đầy máu và nước mắt? Rất nhiều người có trách nhiệm (từ cả hai phía) đã không nhìn thấy điều mà Hồ Chí Minh đã thấy rõ, hiểu rõ. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nói rất rõ rằng, lý do mà nhân dân Việt Nam quan tâm sâu sắc đến nhân dân Mỹ chính là những ý tưởng cao thượng của một dân tộc về công lý và nhân bản quốc tế, về những thành tựu kỹ thuật hiện đại mà muốn phát triển, người Việt Nam không thể không quan tâm. Tính nhân bản quốc tế của nền văn hóa và chính trị Mỹ là điều đã được Hồ Chí Minh ghi nhận. Tại sao cho đến tận bây giờ vẫn còn có không ít người không muốn nhìn thấy nó? Sự lẫn lầm của rất nhiều người không hiểu Hồ Chí Minh có lẽ là một trong những điều đáng suy nghĩ nhất về sự trớ trêu của lịch sử. Có lẽ nó cũng là bi kịch của Việt Nam.

Cuối cùng, cái điều ban đầu không ai nghĩ đến đó, vâng, cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ hai do Mỹ gây ra (1954 – 1975) đã đem đến cho dân tộc Việt Nam không biết bao nhiêu đau thương và mất mát; Hàng triệu người đã phải từ bỏ cuộc sống, hàng triệu người khác bị thương tật suốt đời vì sự tham tàn của những kẻ hiếu chiến nhân danh chủ nghĩa chống cộng, nhưng thực ra là hòng kiềm chế Liên Xô, một đối thủ chính cạnh tranh sức mạnh với Hoa Kỳ. Nỗi đau đó không dễ gì trong ngày một ngày hai hóa giải nổi đối với chúng ta. Hậu quả là đi khắp Việt Nam chỗ nào cũng có nghĩa trang liệt sĩ, nhà nào cũng có bằng Tổ quốc ghi công…

Tuy nhiên, chúng ta cũng phải khách quan mà nói rằng Mỹ chưa hề biến bất kỳ một nước nào thành thuộc địa. Hãy nhìn vào thực tế, hàng chục năm sau khi Tây Ban Nha “sang nhượng” các thuộc địa Costa Rica, Cuba, Hawaii, Philippines cho Mỹ (năm 1898), Mỹ đã đồng ý tổ chức trưng cầu dân ý cho cả 4 nước thuộc địa này, cuối cùng chỉ có người dân Hawaii là đồng ý trở thành bang thứ 50 của Hoa Kỳ. Chính Hồ Chí Minh cũng đã nhận thấy rõ điều này, ông đã viết “Từ ngày Mỹ thừa nhận Philipine độc lập thì dân Việt Nam càng tin tưởng các chính sách rộng rãi của Mỹ”. (6)

Vậy là mối quan hệ Việt – Mỹ có từ trong Thế chiến thứ hai đã không được tiếp tục là do nhiều nguyên nhân, chủ yếu nhất là Việt Nam ngày càng gần gũi hơn với Liên Xô và các nước Đông Âu. Tất nhiên cái “định mệnh” nghiệt ngã của cuộc chiến về hệ tư tưởng bùng nổ thành “chiến tranh lạnh” vào tháng 2/1947 với câu nói nổi tiếng của Winston Churchill “Bức màn sắt được kéo xuống” đã cuốn Việt Nam và Hoa Kỳ đi theo hai con đường đối nghịch nhau.

Thế nhưng, phải lưu ý rằng suốt một thời gian dài Mỹ đã không giúp vũ khí, phương tiện chiến tranh cho Pháp đánh Việt Nam. Đến tháng 1/1947, Hồ Chí Minh vẫn muốn nối được quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ khi ông “Hy vọng Hoa Kỳ gửi giúp chúng tôi vài chiếc máy bay” (7). Ít nhất, chúng ta biết rõ là cho đến tháng 5/1948, Hồ Chí Minh vẫn cho rằng dân tộc Mỹ “Tất nhiên phải đồng tình với nước Việt Nam tranh đấu giành độc lập”. (8) Mãi cho đến tháng 3/1949, lần đầu tiên Hồ Chí Minh mới phản đối việc Mỹ giúp cho Pháp vũ khí để đánh Việt Nam, ông đã khẳng định “Chúng tôi tiếc rằng Mỹ đã tiếp tế khí giới cho Pháp giết hại người chúng tôi, phá phách xứ sở chúng tôi”. (9)

Có thể nói, bắt đầu từ đây, mối quan hệ Việt – Mỹ đã bị cắt đứt hoàn toàn – kéo dài suốt 46 năm, từ năm 1949 đến năm 1995.

Những câu hỏi về sự thăng trầm của lịch sử, nhất là các biến động, bi kịch, lầm lẫn của quan hệ Việt – Mỹ sẽ còn được tiếp tục nghiên cứu nhiều hơn nữa. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm lịch sử của các nước ở Đông Bắc Á trong quan hệ chiến lược với Mỹ thì có thể dễ dàng nhậnn thấy rằng:

– Không có nước nào liên minh với Mỹ mà kinh tế không phát triển;

– Không có nước nào bị Mỹ biến thành tay sai, hay sự lệ thuộc nặng nề về tư tưởng;

– Không có nước nào bị bất kỳ một cường quốc nào đó đe dọa hay xâm lấn lãnh thổ, chèn ép về lãnh hải (Bằng chứng rõ nhất là Đài Loan chỉ cách Trung Hoa lục địa chừng 200km nhưng cho đến bây giờ vẫn yên ổn phát triển một cách bình thường).

-Phải chăng Hồ Chí Minh cũng đã luôn luôn có cách nhìn và cách nghĩ đi trước thời đại. Một số thông tin đưa ra trên đây trong một khuôn khổ hạn hẹp nhất cũng thấy rằng mối quan tâm của Hồ Chí Minh đối với quan hệ Việt – Mỹ là điều luôn luôn được chú ý, mong muốn.

Đến đây, lại một lần nữa nhắc lại, vào năm 1969, chỉ một tuần trước lúc xa lìa cõi đời này, ngày 25/8/1969, Hồ Chí Minh đã viết cho Tổng thống Richard M.Nixon những điều mà có lẽ con cháu hôm nay vẫn chưa kịp hiểu hết “Với thiện chí của Ngài và phía chúng tôi, chúng ta có thể đi tới những cố gắng chung để tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam”. (10)

Vâng, ngay cả trong những ngày hận thù ghê gớm nhất, mâu thuẫn nặng nề nhất, Hồ Chí Minh vẫn có thể dùng từ “Chúng ta” và nói về một cuộc chiến tranh khủng khiếp chỉ bằng mấy chữ “Vấn đề Việt Nam”!

Nhưng có một điều này không phải ai cũng biết, nhất là với người Mỹ; Kể từ sau thành công của cách mạng Mỹ thì gần 200 năm sau, trên thế giới này, cách mạng Việt Nam là thứ hai duy nhất đã thành công và mang lại nền độc lập cho dân tộc. Có gì Liên quan với nhau không nhỉ? Câu hỏi này, có lẽ ngay cả Hồ Chí Minh trong những ngày đầu tiên tới Mỹ không bao giờ tưởng tượng ra được, cũng như Hồ Chí Minh không bao giờ nghĩ rằng mình đã thay đổi cả nước Mỹ sau này!

Chú thích

1. HCM, TT, T 1, NXB Chính trị Quốc gia, H. 2002, tr. 5.

2. Dixee R. Bartholomew – Feis, OSS và Hồ Chí Minh – Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật, NXB Thế giới, H. 2007, tr. 3

3. OSS, sách đã dẫn.

4. HCM, TT, T 3, NXB CTG, H.2002, tr.550.

5. HCM, TT, T 4, NXB CTQG, H. 2002, tr. 80.

6. HCM, T4, sđd, tr. 82.

7. HCM, TT, T 5, NXB CTQG, H. 2002, tr. 21.

8. T 5, tr. 430.

9. T 5, tr. 573.

10. HCM, TT, T 12, NXB CTQG, H. 2002, tr. 489.

avatar
1 Chủ đề thảo luận
0 Các phản hồi
0 Những người theo dõi
 
Bình luận được phản hồi nhiều nhất
Chủ đề được thảo luận nhiều nhất
1 Người bình luận
Tuan Người bình luận gần đây
  Theo dõi  
Mới nhất Cũ nhất Nhiều lượt bình chọn nhất
Notify of
Tuan
Guest
Tuan